24h
20/09/2017 07:19 AM +07:00
20/03/2017 04:19 PM +07:00

Cổ phần hoá chậm vì lợi ích cá nhân níu kéo

Lợi ích cục bộ chính là rào cản lớn đối với tiến trình cổ phần hóa, chưa tạo được động lực thực sự để đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, thể hiện bằng việc tâm lý người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước muốn “làm ông chủ giả” để sử dụng vốn Nhà nước khỏe hơn "ông chủ thật" bỏ tiền ra để kinh doanh.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới phát triển DN, tính từ năm 2011 đến hết năm 2016, cả nước đã sắp xếp và cổ phần hóa được 557 doanh nghiệp. Tổng giá trị thực tế của các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa là 760.774 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn Nhà nước là 188.274 tỷ đồng.

tâm lý “ông chủ giả” chỉ muốn “an phận” để bảo toàn vốn Nhà nước hơn là “cạnh tranh” vì hiệu quả của doanh nghiệp.

Tâm lý “ông chủ giả” chỉ muốn “an phận” để bảo toàn vốn Nhà nước hơn là “cạnh tranh” vì hiệu quả của doanh nghiệp

Tuy nhiên có thể thấy, mặc dù có nhiều những cơ chế, chính sách được đổi mới, bổ sung, hoàn thiện nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp, ngăn ngừa thất thoát vốn và tài sản Nhà nước nhưng năm 2016, tốc độ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp đang có dấu hiệu chững lại hơn so với năm 2014 và 2015. Năm 2016, chỉ có 67 DNNN được sắp xếp và cổ phần hóa trong khi năm 2015 con số này là 244 doanh nghiệp (chỉ bằng 21,7% so với năm 2015).

Về thực trạng bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng, trong giai đoạn 2011-2015 và 9 tháng 2016, nước đã có 426 doanh nghiệp IPO trong số 557 đơn vị được phê duyệt phương án cổ phần hóa. 426 doanh nghiệp IPO bán cổ phần thu về 43.475 tỉ đồng. Số còn lại đang tiến hành các bước để IPO.

Tuy nhiên hiện nay, sau IPO, Nhà nước vẫn nắm giữ trên 90% vốn điều lệ tại 70 doanh nghiệp, bao gồm 15 tập đoàn, tổng công ty lớn. Vốn Nhà nước còn lại tại Tổng công ty Lilama hiện lớn nhất, tới 98%. Tiếp đến là TCT Hàng không Việt Nam với tỷ lệ Nhà nước nắm giữ vốn 95,5%, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam là 94,99%, Tổng công ty Thép Việt Nam là 93,6%, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam 92,5%, Tổng công ty Viglacera là 93%. Ngoài ra, Nhà nước còn nắm giữ 65% vốn tại 82 doanh nghiệp; giữ 50% vốn tại 96 doanh nghiệp; có 156 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ và 22 doanh nghiệp cổ phần hóa cùng công ty mẹ.

Đáng chú ý, về hoạt động thực trạng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp lại rơi vào tình cảnh bết bát hơn, lợi nhuận liên tục giảm, số nợ phải trả tăng như Tập đoàn Cao su Việt Nam (lợi nhuận giảm từ 11.838 tỷ đồng năm 2011 xuống còn 2.200 tỷ năm 2015; công nợ phải trả năm 2015 là 21.220 tỷ trên vốn điều lệ là 35.210 tỷ đồng).

Vì vậy, PGs.Ts. Bùi Đức Tuân, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đánh giá, thực trạng quản trị điều hành trong các doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa một thực tế được ghi nhận là cơ chế quản trị DNNN hiện nay còn chưa thật sự rõ ràng và thiếu chặt chẽ, đặc biệt liên quan đến vấn đề sở hữu và điều hành, dẫn đến những đợt tái cơ cấu DNNN thời gian qua thường chưa đạt được những kết quả mong muốn trong dài hạn.

Trước hết, đối với nhiều DNNN sau cổ phần hóa, đại diện sở hữu vốn Nhà nước vẫn tham gia hoạt động điều hành của DNNN sau cổ phần hóa, điều này đã phần nào cản trở những sáng kiến hiệu quả trong kinh doanh do tâm lý “ông chủ giả” chỉ muốn “an phận” để bảo toàn vốn Nhà nước hơn là “cạnh tranh” vì hiệu quả của doanh nghiệp.

Thứ hai, chưa có sự thay đổi thực sự trong hệ thống quản trị điều hành tại các DNNN sau cổ phần hóa khi có sự sắp xếp lại tổ chức quản lý nhưng vẫn sử dụng những người vốn trước đây là “người Nhà nước”, với kiến thức cũ và cách làm cũ, dẫn đến việc áp dụng các thông lệ quản trị hiện đại tại DNNN sau cổ phần hóa còn hết sức khó khăn.

Với các DNNN mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối thì Nhà nước vẫn đang can thiệp khá sâu vào các hoạt động kinh doanh, làm giảm sự năng động, quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh làm giảm hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, sự chi phối quá sâu vào hoạt động kinh doanh dẫn đến sự ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước.

Đáng chú ý, PGs. Tuân khẳng định, tư tưởng níu kéo lợi ích cá nhân, phục vụ lợi ích nhóm khiến cho các doanh nghiệp chưa thực sự tập trung vào mục tiêu cổ phần hóa và triển khai phương án cổ phần hóa theo kế hoạch. Lợi ích cục bộ chính là rào cản lớn đối với tiến trình cổ phần hóa, chưa tạo được động lực thực sự để đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn.

Mô hình, tổ chức, cơ chế thực hiện chức năng chủ sở hữu Nhà nước còn phân tán, thiếu chuyên nghiệp, phối hợp giữa các cơ quan chức năng còn nhiều vướng mắc, lúng túng, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý, gây khó khăn cho tổ chức, hoạt động và đổi mới quản trị DNNN. Điều này đã dẫn đến những hệ lụy không mong đợi như để thất thoát tài sản của nhà nước (trường hợp FAFILM), thâu tóm cổ phần của doanh nghiệp (trường hợp của Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang),...

Do vậy, ông kiến nghị, cần có biện pháp xử lý nghiêm đối với lãnh đạo doanh nghiệp không thực hiện đúng hoặc thực hiện không có hiệu quả tái cơ cấu và nhiệm vụ được giao trong quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Trước đó, ông Trần Quang Nghị, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt May, cũng từng đánh giá việc cổ phần hóa chậm là do tâm lý người đứng đầu DNNN muốn "làm ông chủ giả" dùng vốn nhà nước khỏe hơn ông chủ thật bỏ tiền ra để kinh doanh, bởi chỉ cần bảo toàn vốn là được. Do vậy không cần phải đẩy nhanh cổ phần hóa để "chiến đấu" với thương trường.

Do vậy, ông Nghị khuyến nghị, để bảo đảm cao nhất lợi ích của nhà nước khi bán cổ phần. "Khi bán một cái nhà, phải chống thấm, chống dột, chỉnh trang để cái nhà đẹp hơn và bán được với giá cao nhất. Tuy nhiên, thực tiễn lại có DN khi bán lại "làm cái nhà xấu đi" để bán giá thấp cho nhóm lợi ích... Do vậy cần có sự giám sát chặt chẽ, hợp lý để bảo đảm lợi ích cao nhất của Nhà nước khi bán cổ phần", ông Nghị khuyến nghị.

Lê Thuý

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc ()