Diễn đàn
15/12/2017 07:51 AM +07:00
02/06/2017 06:38 AM +07:00

“Sức khoẻ” doanh nghiệp nhìn từ tỷ trọng xuất khẩu

Phần lớn khu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn hoạt động ở thị trường nội địa, năng lực cạnh tranh yếu và chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bằng chứng là hầu hết các ngành công nghiệp trọng điểm cho xuất khẩu của Việt Nam đều do các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nắm giữ.

 

Thống kê cho thấy, chỉ 3% DN siêu nhỏ, 4% DN nhỏ và 9% DN quy mô vừa của Việt Nam có khách hàng nước ngoài và hầu hết các ngành công nghiệp trọng điểm cho xuất khẩu của Việt Nam đều do các DN FDI nắm giữ, chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu và gia tăng với tốc độ cao hơn nhóm DN trong nước.

DN FDI chi phối xuất khẩu

Việt Nam đã không xây dựng được nội lực, khả năng làm chủ và thực hiện nổi mong muốn trong phát triển các ngành công nghiệp vì về lâu dài, các DN FDI rất dễ rời sang quốc gia khác nếu những điều kiện cho sản xuất và tiếp cận thị trường xuất khẩu thuận lợi hơn.

Đối với ngành điện tử, 95% kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành này là của các DN FDI trong khi số lượng DN FDI chỉ chiếm 1/3 tổng số DN điện tử tại Việt Nam. Theo báo cáo mới đây từ Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), có tới 99 trong số 100 DN điện tử lớn tại Việt Nam là DN FDI.

Trong ngành dệt may, DN FDI chiếm tỷ trọng xấp xỉ 20%, nhưng lại đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu với khoảng 60 – 70%.
Ở ngành công nghiệp da giày, tỷ trọng xuất khẩu của các DN FDI trong kim ngạch xuất khẩu ngành hàng này tăng liên tục, từ 75% năm 2013 tăng lên 81% năm 2016.

Trước đó, báo cáo kinh tế vĩ mô quý I/2017 của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cũng nhận định rằng hầu hết ngành công nghiệp suy giảm bất thường khiến tăng trưởng không đạt như kỳ vọng. Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào sản lượng của khu vực FDI, đặc biệt một số tập đoàn lớn như Samsung.

“Thương mại tăng trưởng cao nhưng xuất khẩu chưa phục hồi thực sự về lượng. Trong khi đó, khuynh hướng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục giảm xuống còn 28%”, VEPR cho biết.

Theo VEPR, thông thường, giá trị GDP của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sản lượng của khu vực FDI nên câu chuyện tăng trưởng chậm đang gặp phải chính là một bài toán khó về sự cạnh tranh mà nền công nghiệp Việt Nam cần tự giải.

Báo cáo này nhận định thêm rằng nếu nguyên nhân chính của việc suy giảm tăng trưởng được cho là bắt nguồn từ tính thời vụ trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Samsung, điều đó cho thấy ngày càng rõ khuynh hướng về sự lệ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào một số ít tập đoàn đa quốc gia và ngành hàng chính. Trong khi đó, nền công nghiệp trong nước ngày càng kém cạnh tranh và có khuynh hướng thu hẹp.

Trên thực tế, khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ khối DN nước ngoài giữa bối cảnh hội nhập ngày càng mạnh mẽ, các DN Việt Nam phần lớn vẫn hoạt động ở thị trường nội địa, năng lực cạnh tranh yếu, chưa tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

PGs.Ts. Nguyễn Hồng Sơn – Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết, năm 2015, chỉ có 3% DN siêu nhỏ, 4% DN nhỏ và 9% DN quy mô vừa có khách hàng nước ngoài.

DN trong nước đang đứng trước tình trạng xuất khẩu không được, tiêu thụ nội địa không xong

DN nội yếu thế, vì sao?

Khẳng định khu vực FDI dù đóng góp rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước song không mang lại nhiều giá trị, Ts. Đinh Tuấn Minh cho rằng không còn cách nào khác ngoài việc phải đẩy mạnh hơn nữa vào động lực tăng trưởng mới và bền vững, tức là khu vực tư nhân trong nước.

Song hiện nay, các DN công nghiệp nội địa quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh nhìn chung còn thấp, chưa có những DN công nghiệp có thương hiệu cạnh tranh khu vực và toàn cầu.

Năm 2015, khu vực doanh nghiệp tư nhân (DNTN) đóng góp gần 50% GDP, 33% thu ngân sách nhà nước, 40% vốn đầu tư và 62% tổng số việc làm của khối DN; thu nhập bình quân trên lao động là 42 triệu đồng/năm vào năm 2010 và lên 74 triệu đồng/năm vào năm 2015.

Tuy nhiên, hơn 95% DNTN hiện nay là DN có quy mô nhỏ và vừa; vốn bình quân của loại hình DN này chỉ bằng 1,5% mức vốn bình quân của 1 DN nhà nước (DNNN) và 19% của DN FDI; tài sản cố định bình quân của DNTN dao động ở mức 4 – 7 tỷ đồng và chỉ bằng 1% của DNNN và 5% của DN FDI. Chiếm đông đảo về số lượng nhưng tổng tài sản cố định và đầu tư dài hạn của loại hình DN này chỉ chiếm khoảng 40% toàn bộ khối DN.

Điều này cho thấy là khu vực DNTN phát triển chậm, thiếu liên kết, tập trung trong khu vực phi chính thức, quy mô nhỏ, với công nghệ phần lớn lạc hậu, khó khai thác được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Bên cạnh đó, đa số DNTN chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn và thiếu sản phẩm mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đặc biệt, chính quy mô vốn nhỏ khiến DNTN bị yếu thế trong cạnh tranh tiếp cận các nguồn lực sản xuất và không đủ sức tích lũy, đầu tư để vươn ra thị trường quốc tế.

Các DNTN quy mô lớn chủ yếu tập trung trong lĩnh vực bất động sản và thương mại, rất ít DN lớn trong ngành chế tạo, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Do vậy, hiệu quả kinh doanh của các DN thuộc Top 500 DNTN lớn nhất Việt Nam (VNR500) đã sụt giảm khá mạnh trong 5 năm qua, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các DN VNR500 năm 2015 giảm 6% so với năm 2011.

Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để DNTN phát triển? Theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh, chuyện có hay không nên ưu đãi cho DNTN cũng cần được cân nhắc. Phát triển DNTN có ưu đãi, hỗ trợ; DNNN lại càng được ưu đãi hơn, DN FDI cũng được ưu đãi. Như vậy là chúng ta đi ngược hoàn toàn về tư duy.

“Tôi thấy hiện nay Quốc hội đang bàn thảo Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa. Vậy tại sao lại có Luật này, trong khi chúng ta thấy rõ vấn đề của chính mình là phải làm sao dừng những ưu đãi bất hợp lý cho DNNN, DN FDI mà không phải đưa hỗ trợ cho DN nhỏ và vừa nói riêng và DNTN nói chung”, ông Ánh khuyến cáo.

Ông Ánh ví von: “Động lực nền kinh tế dựa vào ‘3 con ngựa’ là DN FDI, Nhà nước và tư nhân. Tốc độ cả cỗ xe bị kìm hãm vì một con chạy chậm hơn. Vấn đề không phải ta cứ đẩy, cứ dồn cho con chạy nhanh tiếp tục chạy nhanh để kéo xe, kéo các con kia lên mà vấn đề là phải bắt con chạy chậm nhất, thúc vào nó cho nó chạy nhanh hơn”.

Lê Thúy

Ts. Vũ Đình Ánh - Chuyên gia kinh tế

Hiện nay, khu vực tư nhân đang chứa đựng mâu thuẫn nội tại, vừa đòi bình đẳng với khu vực nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa yêu cầu Nhà nước có những ưu đãi riêng, trong khi yêu cầu được tôn trọng lại chưa chủ động để được tôn trọng, tư tưởng chờ đợi, ban phát, dựa dẫm vào Nhà nước tuy không phải là đặc trưng nhưng khá phổ biến. Tôi cho rằng chính sách và cơ chế đối với kinh tế tư nhân cần dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng, chủ động, không cần ưu đãi.

Ông Trần Anh Dũng - Chủ tịch HĐQT công ty Cổ phần Năng lượng Thiên Phú

Tôi cho rằng cần tư duy mới, loại bỏ khái niệm kinh tế tư nhân và khái niệm kinh tế nhà nước vì nó sẽ làm nảy sinh vấn đề phân biệt “con nuôi, con đẻ”. Khi đang tồn tại song song hai hình thái là DNNN được nhiều ưu ái còn DNTN phải bươn chải sẽ không thể đảm bảo sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân.

PGs.Ts. Nguyễn Trọng Điều - Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam

DNTN cần môi trường đầu tư lành mạnh, ổn định, thủ tục đừng khó như lên trời DN mới làm được. Chúng ta có cải cách nhưng chủ yếu là cải cách ở việc gia nhập, còn sau khi gia nhập rồi vận hành vô cùng khó. Cải cách hành chính tắc ở chỗ đó chứ không phải ở đâu khác.

 

Ý kiến bạn đọc ()