Diễn đàn
21/11/2017 12:58 PM +07:00
26/10/2017 07:39 AM +07:00

Điều gì kìm hãm khu kinh tế “cất cánh”

Việt Nam không thiếu các khu kinh tế (KKT) lớn, nhất là các KKT ven biển nở rộ gần đây, song hiệu quả hoạt động của các KKT này chưa như kỳ vọng, thậm chí đem đến những kết quả trái chiều. Chưa kể, hầu hết KKT ở Việt Nam rất giống nhau nên đây là những nơi tạo ra cuộc đua “xuống đáy” khốc liệt nhất.

 

Ts. Huỳnh Thế Du, Đại học Fulbright, cho biết hiện nay, tổng diện tích của các KKT đã trên 15.000km2 (gấp hơn 7 lần diện tích của Tp.HCM – đô thị đã có lịch sử phát triển hơn 300 năm, đang tạo ra 20% GDP và 30% ngân sách quốc gia) nên cần phải một thời gian rất dài để lấp đầy, dù chỉ một phần nhỏ diện tích đã được quy hoạch. 

Những kết quả trái chiều

Việc hình thành KKT đều xoay quanh các mục tiêu gồm: khả năng thu hút đầu tư FDI, thúc đẩy ngoại thương trong điều kiện chịu những ràng buộc chưa thể cải cách; giải tỏa một phần áp lực của tăng dân số và nhu cầu việc làm; phòng thí nghiệm cho các chính sách và cách tiếp cận mới. 

“Tuy nhiên, những mục tiêu này khi đối chiếu với thực tế phát triển KKT ở Việt Nam cho thấy mô hình này đang đem đến các kết quả trái chiều”, Ts. Du đánh giá.

Cụ thể, mô hình khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) được triển khai từ đầu thập niên 1990 đã gặt hái được những thành công ở cả hai góc độ lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp, song sự phát triển đại trà mang tính phong trào của các KCN sau đó đang gây ra nhiều hệ lụy. 

Tiếp đó, mô hình KKT ven biển kể từ đầu thập niên 2.000 chưa đạt được kết quả như kỳ vọng nhìn trên bình diện quốc gia. Dường như không có sự khác biệt nhiều về mặt chính sách bên trong và bên ngoài hàng rào KKT, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa cao độ, nên sức hấp dẫn của các KKT ở Việt Nam không nhiều. 

Đáng nói, vấn đề nghiêm trọng ở chỗ, hầu hết KKT tại Việt Nam rất giống nhau nên đây là những nơi tạo ra cuộc đua “xuống đáy” khốc liệt nhất. Tình trạng này đang rất phổ biến và khả năng các KKT trở thành những khu “quy hoạch treo” khổng lồ hoàn toàn có khả năng xảy ra. 

Chưa kể, “quyết tâm nửa vời và sự chèo kéo của các địa phương dẫn đến tình trạng đầu tư theo “mô hình quả mít” (tất cả đều là gai nhưng không có mũi nhọn nào), có lẽ là vấn đề nan giải nhất hiện nay ở Việt Nam”, Ts. Du nhận xét.

Ngoài ra, các KKT có những quyền tự chủ nhất định, nhưng trên thực tế, việc thu hút đầu tư, nhất là việc đàm phán và đưa ra các quyết sách với những dự án lớn, đều được quyết định, hoặc thông qua các cấp lãnh đạo cao nhất của địa phương, thậm chí là lãnh đạo Trung ương. 

Trong nhiều trường hợp, dự án ở ngoài KKT nếu cần thiết thu hút, địa phương hoàn toàn có thể có các cơ chế để thu hút mà nhiều khi còn ưu đãi hơn cả trong các KKT, hoặc địa phương có thể tìm cách bao gồm cả dự án thuộc KKT. 

Vì vậy, nhìn từ góc độ ra quyết định và thực thi chính sách, các KKT thực chất chỉ là nơi tập trung các DN hay cơ sở sản xuất của địa phương.

Các KKT chỉ chú trọng đến lợi ích trực tiếp tính bằng con số cụ thể mà chưa quan tâm tới vai trò “phòng thí nghiệm chính sách”

“Phòng thí nghiệm” chính sách 

Đại diện Ban Quản lý KKT Chân Mây – Lăng Cô cho biết hiện nay, cơ chế chính sách phát triển KKT còn một số bất cập, vướng mắc, bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý, chưa phù hợp với các quy định của pháp luật, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý và DN trong quá trình tổ chức thực hiện. “Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý KKT trong một số lĩnh vực vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, nhất quán do còn bất cập giữa các văn bản quy phạm pháp luật về KKT và các quy định của pháp luật chuyên ngành”, đại diện KKT Chân Mây – Lăng Cô nói. 

Cùng với đó, vai trò, vị trí của Ban Quản lý KKT trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương chưa rõ, chức năng, nhiệm vụ trong một số lĩnh vực như thanh tra, môi trường, lao động… còn thiếu thống nhất. Chính sách ưu đãi đầu tư chung chưa ổn định, nhất quán, ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút đầu tư, nhất là các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai. Theo Ts. Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách công nghiệp, Bộ Công Thương, hiện đang có nhiều vướng mắc, chồng chéo trong các quy định liên quan đến KKT.

Để khắc phục các chồng chéo, vướng mắc giữa các văn bản dưới luật có liên quan đến KKT, kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan. 

Trước mắt, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương khi ban hành các văn bản pháp luật cần nêu rõ “với các KKT được Thủ tướng Chính phủ thành lập, thực hiện theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT”. 

Về lâu dài, để khắc phục những chồng chéo trong ban hành văn bản pháp luật, Ts. Giám kiến nghị, Quốc hội cần ban hành Luật về KKT, KCN, KCX và có các nghị định, thông tư hướng dẫn như đối với các luật chuyên ngành khác theo cơ chế đặc thù nhằm tạo môi trường thông thoáng, hấp dẫn để thu hút đầu tư. 

Đồng thời, tập trung chuyển hẳn các nhiệm vụ đang thực hiện theo cơ chế phân công hoặc ủy quyền thành giao nhiệm vụ quyền hạn thường xuyên cho Ban Quản lý KKT phù hợp với chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KKT, để thực hiện có hiệu quả cơ chế “một cửa, tại chỗ” đối với hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư phát triển và cung ứng dịch vụ công trong KKT.

Ngoài ra, xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước với nhau và với nhà đầu tư trong KKT, nhằm xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh hiệu quả. Trong khi đó, theo Ts. Du, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của mô hình KKT là tạo ra các đột phá, nhất là đột phá hay cải cách thể chế.

Có được điều này, những yếu tố khác thường sẽ được kéo theo. Tuy nhiên, các KKT ở Việt Nam thường chỉ chú trọng đến những lợi ích trực tiếp tính bằng số vốn, số DN, số việc làm hay doanh số, trong khi các lợi ích mềm hay nhân tố động, đặc biệt là vai trò “phòng thí nghiệm chính sách” chưa được quan tâm. 

Từ kinh nghiệm quốc tế và những trường hợp thành công ở Việt Nam, Ts. Du nhận thấy dường như mô hình KKT, hay nói rộng hơn là những kinh nghiệm và bài học từ việc sử dụng mô hình này vẫn là niềm hy vọng cho việc tạo ra các đột phá, nhất là cải cách thể chế, ở Việt Nam hiện nay. 

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, các cơ chế, chính sách trong thời gian tới cần phải phá bỏ những “bức tường” quanh các KCN và KKT để cát cứ và chia cắt giữa các địa phương với nhau. 
 

Lê Thúy
 

Ông Đỗ Xuân Diện - Trưởng ban quản lý KKT mở Chu Lai

KKT được xây dựng đều có mục tiêu ban đầu là sử dụng những cơ chế ưu đãi vượt trội để khuyến khích, thu hút đầu tư. Tuy nhiên, khi xây dựng các KKT, các chính sách được đề xuất lúc đó có thể là những ưu đãi nhất định, nhưng sau đó, các cơ chế ưu đãi được xây dựng và áp dụng cho nhiều khu vực khác nhau trong cả nước. Vậy nên hiện tại, những cơ chế ưu đãi cho các KKT ven biển nói chung và các KKT của vùng kinh tế trọng điểm chỉ ngang bằng với điều kiện ưu đãi vào các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Ts. Dương Đình Giám - Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách công nghiệp, Bộ Công Thương 

Hiện nay, cách nhìn nhận KKT như một khu biệt lập là khá phổ biến ở Việt Nam. Điều này đã giới hạn vai trò cũng như khả năng liên kết của các KKT với một phạm vi hay địa giới các hoạt động kinh tế rộng lớn hơn. Đối với Việt Nam, việc kết hợp giữa KKT và cụm ngành nên được đặt ra và xem xét một cách thấu đáo. 

Ts. Huỳnh Thế Du - Đại học Fulbright

Đề xuất Trung ương sớm ban hành Luật KKT để đảm bảo KKT có một khung pháp lý đủ mạnh, đồng bộ, nhất là trong quản lý hành chính, chính sách đầu tư, nguồn vốn… mới đáp ứng được yêu cầu quản lý vận hành KKT và tương thích với yêu cầu phát triển trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

 

Ý kiến bạn đọc ()