Diễn đàn
23/01/2018 07:00 PM +07:00
14/12/2017 08:11 AM +07:00

Hóa giải thách thức tăng năng suất lao động

Năng suất lao động (NSLĐ) thấp đang ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Để hóa giải thách thức này, Chính phủ phải nỗ lực tạo lập môi trường cạnh tranh toàn diện, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực; phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế bằng cách đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ.

 

Tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF 2017) với chủ đề “Tăng năng suất – Đòn bẩy cho phát triển bền vững” ngày 13/12, các chuyên gia đã đưa ra rất nhiều sáng kiến giúp Việt Nam cải thiện “bức tranh” NSLĐ đang bị đánh giá là “ảm đạm”.

Năng suất thua xa khu vực

Góp bài tham luận tại VDF, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, cho biết NSLĐ của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% Malaysia; 36,5% Thái Lan; 42,5% Indonesia; 56,7% Philippines và 87,4% Lào. 

Theo ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW, năng suất của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và so với yêu cầu phát triển. Khoảng cách NSLĐ của Việt Nam với các nước trong khu vực vẫn còn ở mức cao, so với Singapore năm 2016 là 14,3 lần; với Maylaysia 5,7 lần, với Thái Lan 2,7 lần.

Đóng góp của tăng nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014 so với các nước trong khu vực là thấp. Cụ thể, trong khi đóng góp của TFP cho tăng trưởng của các nước phát triển ở mức cao như Nhật Bản 84%, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) 39%, Việt Nam chỉ khoảng 20%.

Để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,85%/năm trong 3 năm tới, hay mục tiêu 6,5 – 7% giai đoạn 2016 – 2020, tốc độ tăng năng suất cần phải nhanh hơn nữa, trong đó tăng NSLĐ phải đạt bình quân khoảng 6% so với 4,6% giai đoạn 2011 – 2015 và 5,5% giai đoạn 2014 – 2016. 

Như vậy, tốc độ tăng NSLĐ phải tăng thêm 26% so với giai đoạn 2011 – 2017 và khoảng 10% so với giai đoạn 2014 – 2016. Đây là mục tiêu đầy thách thức đối với Việt Nam hiện nay.

Các động lực trước đây trong tăng năng suất của kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu chững lại như chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ chỗ đóng góp phần lớn vào tăng NSLĐ nay đóng góp ngày càng ít hơn. Nếu giai đoạn 2008 – 2010, chuyển dịch cơ cấu ngành đóng góp khoảng 59%, thì giai đoạn 2011 – 2015 giảm xuống còn khoảng dưới 30%, có năm chỉ còn khoảng dưới 10%. 

Ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, nhấn mạnh, tăng trưởng NSLĐ cao sẽ giúp Việt Nam thực hiện ước vọng trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2035. 

Tuy nhiên, ông Ousmane nhìn nhận, trong 5 năm qua, dù đạt mức tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận, nhưng NSLĐ yếu là vấn đề rất quan ngại với Việt Nam. Tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam đạt trung bình 4%/năm, ở cùng giai đoạn phát triển như Việt Nam, Trung Quốc đạt tốc độ 7%, Hàn Quốc là 5%.

“Mức tăng trưởng NSLĐ này sẽ khó giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững như những nước này”, ông Ousmane đánh giá.

Cụ thể, trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) cho biết, từ năm 2000 đến nay, tốc độ tăng trưởng năng suất có dấu hiệu suy giảm. Tăng trưởng TFP ở Việt Nam có xu hướng không cao và giảm dần. 

Các nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan, TFP đóng góp 80% vào tăng trưởng nông nghiệp, ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 là 57%, từ năm 2010 trở lại đây chỉ 35%. 

Điều này đặt Việt Nam trước thách thức cần phải nâng cao năng suất. 

Thủ tướng cho rằng Việt Nam không thể tự hào khi NSLĐ thấp xa so với một số nước khu vực 

Các chuyên gia hiến kế

Đại diện đối tác phát triển, ông Sudhir Shetty, chuyên gia kinh tế trưởng WB khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, nhận xét: Việt Nam đang rơi vào tình trạng tăng trưởng năng suất bị chững lại. Đặc biệt, năng suất vẫn thấp và giảm mạnh ở khu vực ngoài quốc doanh. 

“Các DN tư nhân lớn trong nước có tiềm năng lớn nhất về hiệu quả nhờ lợi thế quy mô kinh tế, nhưng lại là những DN có năng suất thấp nhất”, vị chuyên gia lưu ý.

Gs. Kenichi Ohno, Học viện Quốc gia về nghiên cứu chính sách GRIPS (Nhật Bản), đánh giá NSLĐ của Việt Nam phản ánh mức độ thâm dụng vốn (khối lượng đầu tư) trong khi năng suất các TFP bị đình trệ tại Zero. 

Theo Gs. Kenichi, Chính phủ Việt Nam cần thực hiện một loạt các dự án nhằm tăng năng suất. Trong đó, chất lượng chính sách của Việt Nam cần được cải thiện để qua đó, Chính phủ có thể hỗ trợ khu vực tư nhân một cách hiệu quả.

“Phát triển kinh tế phải được dẫn dắt bởi con người và DN. Tầm nhìn và mục tiêu đúng đắn. Chia sẻ thông tin, các ưu đãi và môi trường đầu tư là những điều kiện cần thiết để đưa Việt Nam chuyển từ lắp ráp giản đơn lên tạo ra giá trị”, Gs. Kenichi nói. 

Gs. Rajah Rasiah, Đại học Malaya, Cố vấn cao cấp UN/UNDP tại Việt Nam, kiến nghị Việt Nam có thể sử dụng các công cụ làm đòn bẩy bao gồm kích thích nỗ lực nâng cấp công nghệ ở các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng như phát triển từng bước lực lượng lao động và các nhà cung ứng nội địa của Việt Nam để phát triển các công ty trong nước.

Đồng thời, cần khuyến khích đổi mới, sáng tạo, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu từ các hoạt động có giá trị gia tăng thấp sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao, bằng cách tăng cường nguồn vốn con người và tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D).

Để làm được, Gs. Rajah Rasiah cho rằng Việt Nam cần thành lập ủy ban tư vấn kỹ thuật bao gồm các chuyên gia công nghiệp, quan chức Chính phủ và đại diện công ty của Việt Nam để xác định các DN của Việt Nam so với các DN đang ở tuyến đầu công nghệ và các biện pháp hỗ trợ về mặt thể chế. 

“Ủy ban cần thường xuyên thẩm định các mục tiêu chính sách so với mục tiêu đuổi kịp và nhảy vọt về công nghệ trong các thị trường hiện có và thông qua liên kết các thị trường một cách sáng tạo”, Gs. Rajah nói. 

Theo Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam, còn nhiều dư địa để Việt Nam tăng NSLĐ, trong đó, vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng. Đồng thời, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi, tập trung đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt chi phí, đặc biệt là phải đảm bảo phân bổ nguồn lực phù hợp, trong đó chú trọng đến nguồn lực đất đai và vốn. 

Ông Ousmane nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng, đổi mới sáng tạo trong quá trình tìm kiếm giải pháp tăng trưởng năng suất của Việt Nam. Ngoài ra, cần sử dụng nguồn vốn hỗ trợ ưu đãi hiệu quả, nhất là khi nguồn vốn này đang giảm dần vì Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. 

Lê Thúy 
 

Thủ tướng Chính phủ - Nguyễn Xuân Phúc

Các động lực mới đang dần xuất hiện, nhưng cần tạo thêm xung lực và chủ động tận dụng các dư địa còn lại để tăng năng suất. Trong đó, động lực tăng năng suất từ phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang tăng dần và còn nhiều tiềm năng. Động lực từ hội nhập cũng cần được khai thác tốt hơn trên cả khía cạnh nâng cao đóng góp của khu vực FDI trong thúc đẩy năng suất và nâng cao giá trị gia tăng nội địa của hàng hóa xuất khẩu (nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu).

Chuyên gia Học viện Quốc gia - về nghiên cứu chính sách GRIPS (Nhật Bản) Gs. Kenichi Ohno

Việt Nam có nhiều tiềm năng, dư địa và cơ hội lớn để gia tăng tốc độ tăng năng suất. Trước hết là phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn lực; chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, áp dụng khoa học – công nghệ để tăng năng suất của từng doanh nghiệp, từng nội ngành kinh tế… Bên cạnh nỗ lực, phát huy sức sáng tạo của chính mình, Việt Nam rất cần sự hỗ trợ và tham vấn của các đối tác phát triển, cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia trong và ngoài nước để tìm chính sách phù hợp trong bối cảnh khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa nhanh chóng. 

Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW - Nguyễn Đình Cung

Cần phải tăng cường năng lực thể chế của Việt Nam cho việc nâng cao năng suất như xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ, đồng thời có dữ liệu, nghiên cứu, theo dõi đánh giá và đề xuất chính sách nâng cao năng lực của Viện Năng suất Việt Nam.

 

Ý kiến bạn đọc ()