Diễn đàn
20/02/2018 04:51 PM +07:00
17/01/2018 09:21 AM +07:00

Kinh tế khó “bay cao” khi còn nhiều lực cản

Một khi doanh nghiệp (DN) tư nhân còn nhiều khó khăn, giá trị gia tăng phụ thuộc khối ngoại, năng suất lao động (NSLĐ) vẫn thấp, môi trường kinh doanh còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, mối lo nợ công, bội chi ngân sách lớn, thì chưa thể yên tâm về viễn cảnh tươi sáng của tăng trưởng kinh tế 2018.

Sáng 16/1, Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức tọa đàm công bố Báo cáo kinh tế vĩ mô quý IV/2017. Đưa ra dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2018 là 6,65%, tuy nhiên, VEPR cũng cho rằng nhiều vấn đề nội tại cố hữu của nền kinh tế chưa được giải quyết triệt để sẽ vẫn là lực cản với nền kinh tế.

Cảnh báo “đồng tiền có chân”

Nhìn thành quả tăng trưởng kinh tế 2017, Ts. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR, đánh giá việc phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế thế giới và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang tạo ra nhiều bất trắc tiềm ẩn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2018 có thể đối mặt với nhiều rủi ro bất định lớn liên quan đến địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại của một số nước lớn, cũng như sự thay đổi ngày càng nhanh của khoa học công nghệ.

Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, cho rằng động lực tăng trưởng chính hiện nay vẫn thuộc về khối DN FDI, thể hiện bằng chỉ số giá trị sản xuất công nghiệp chiếm trên 50%, kim ngạch xuất khẩu chiếm trên 70%. 

Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cần nhìn thẳng vào sự thật đóng góp của DN nội vào tăng trưởng kinh tế quá thấp. 

Ông Doanh dẫn câu chuyện Samsung vừa rồi công bố tỷ lệ nội địa hóa điện thoại thông minh là 52%, tuy nhiên theo khảo sát của Đại học Fulbright, đóng góp của DN Việt chỉ 16 – 17%, còn lại là DN Hàn Quốc theo chân Samsung vào Việt Nam để làm nhà cung cấp linh kiện, nhưng vấn đề là Việt Nam cứ gọi đó là “Made in Việt Nam”. 

“Ở Mỹ, cái gì mà hàm lượng nội địa trên 70% mới được nói “Made in USA”, còn dưới 30% là đóng gói nên gọi “Taken by USA”. Điều này cho thấy nếu áp dụng theo tiêu chuẩn như vậy, phần lớn sản phẩm của chúng ta là đóng gói chứ không phải tự sản xuất”, ông Doanh chia sẻ. 

Vì thế, song song với chỉ số GDP, cần phải xây dựng thêm chỉ số GNI. GNI là cái mà Việt Nam có được sau khi nước ngoài chuyển vốn và lãi về nước.

Bên cạnh đó, ông Doanh cũng cho rằng cần làm rõ vai trò của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) trong năm 2017: “VEPR nêu khu vực KTTN có đóng góp, nộp thuế, nhưng tôi xin lưu ý KTTN hiện chỉ chiếm 9% GDP, trước đó là 11% GDP, hơn nữa phần lớn là kinh tế hộ gia đình dưới 10 lao động, thu thuế theo kiểu thương lượng, khả năng cạnh tranh quốc tế rất thấp”. Đồng thời ông Doanh cũng kiến nghị: “Cần đánh giá đúng môi trường hiện nay là có lợi gì cho KTTN, vì sao KTTN không tăng trưởng?”.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, năm 2017 đánh dấu cột mốc 10 năm Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), 2 năm gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)… Đây vừa là cơ hội nhưng cũng là sức ép với cộng đồng DN Việt Nam, nên số DN ra khỏi thị trường rất cao, mặc dù số đăng ký mới có tăng lên. 

“Tôi rất lo đối với DN rút khỏi thị trường, đây là những DN hoạt động có thời gian, đóng góp nhất định cho kinh tế, tuy nhiên trước sức ép hội nhập, bất lợi từ môi trường kinh doanh, thuế, phí cao, chi phí không chính thức lớn… đã đẩy những DN này rơi vào tình trạng phá sản. Mới đây, Bộ Tài chính vẫn tiếp tục bảo vệ đề xuất của mình về kế hoạch tăng thuế. Tuy nhiên, nếu tiếp tục tăng thuế, không biết sức chịu đựng của các DN trong nước ra sao?”, bà Lan bày tỏ. 

Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng để DN phát triển, phải đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, bắt đầu từ thể chế. Cần có sự chuyển hướng chính sách để DN thay vì biếu xén, kinh doanh dựa trên lợi ích, ăn chơi, quan hệ, phải đầu tư khoa học công nghệ. 

Đặc biệt, trong bối cảnh thương mại tự do được đẩy mạnh, nếu không cải cách thể chế thuận lợi, không ủng hộ DN trẻ khởi nghiệp sáng tạo, ông Doanh cảnh báo vấn đề “đồng tiền có chân”. “Người ta sẵn sàng đăng ký thành lập DN ở Singapore, nộp 10 USD là DN được hoạt động ngay. Thực tế, ngày càng nhiều DN trẻ của chúng ta đầu tư vào Singapore, đóng góp thuế ở Singapore”, ông Doanh cho biết. 

Nhiều vấn đề nội tại cố hữu của nền kinh tế chưa được giải quyết triệt để sẽ là lực cản đối với phát triển kinh tế trong 2018
 

Mối lo năng suất thấp

Hơn nữa, ông Doanh cũng cho rằng 2018 là năm hội nhập bản lề, khi thuế nhập khẩu về 0%, nhiều nguồn hàng từ Hàn Quốc, Trung Quốc, ASEAN đổ vào Việt Nam, nên không phải là năm dễ dàng đối với nền kinh tế: “Tôi muốn rung chuông báo động hết sức tỉnh táo để các ngành, các lĩnh vực cần phải có nỗ lực, giải pháp đối mặt với sức ép này”.

Năm nay cũng là năm Việt Nam phải thương lượng với WTO xem có được công nhận là nền kinh tế thị trường hay không. Nếu 65 nước công nhận, nhưng chỉ cần 3 nền kinh tế lớn là Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản không đồng ý thì chúng ta không được công nhận, ông Doanh cho biết.

Về vấn đề này, theo phân tích của chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu: Nhiều nước phương Tây chưa chấp nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, dù tăng trưởng tốt, giảm vai trò DN vốn nhà nước…, một phần vì KTTN chưa phát triển, cạnh tranh bình đẳng.

“Chúng ta đang đưa tư nhân lên cao, nhưng vẫn cường điệu quá. Nói thành quả không nên dùng từ ru ngủ, tốt là tốt, khả quan là khả quan, cần nêu điểm chưa tích cực để cải thiện”, ông Hiếu góp ý. 

Bên cạnh đó, hiện nay, động lực tăng trưởng kinh tế vẫn chưa đến từ việc tăng NSLĐ. NSLĐ của Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, chỉ bằng 1/14 so với Singapore, 1/6 so với Malaysia và 1/3 so với Thái Lan.

“Nếu không có những biện pháp tổng thể giúp nâng cao NSLĐ trong tương lai gần, trong bối cảnh cơ cấu dân số vàng sắp đi qua, Việt Nam sẽ khó có thể duy trì được đà tăng trưởng như hiện nay”, Ts. Nguyễn Đức Thành cảnh báo. 

Chỉ ra nguyên nhân, bà Lan khẳng định tắc nghẽn về NSLĐ là do không chuyển dịch cơ cấu nội ngành. Riêng ngành dịch vụ chưa thấy chuyển dịch cơ cấu đáng kể, dịch vụ bán buôn, bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn vào tăng trưởng, bất động sản vẫn có vai trò chi phối, chưa có ngành có giá trị gia tăng cao đóng góp lớn cho tăng trưởng.

Thêm vào đó, VEPR cũng cho rằng thâm hụt ngân sách và nợ công tăng cao vẫn tiếp tục là vấn đề nghiêm trọng cản trở nền kinh tế. Trong khi nguồn vốn chi đầu tư công vẫn còn hạn chế, chi thường xuyên vẫn ở mức cao tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước. 

Trong bối cảnh đã “tốt nghiệp” vốn vay ODA, các nhà tài trợ nước ngoài sẽ lần lượt rút dần và chỉ cho vay với mức lãi suất kém ưu đãi hơn, Việt Nam sẽ cần sử dụng nhiều hơn nguồn nội lực của mình làm động lực cho tăng trưởng. 

Chính phủ cũng cần thực hiện các biện pháp quyết liệt để thắt chặt chi thường xuyên như các chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy, hạn chế chi tiêu cho các tổ chức đoàn thể, thoái vốn khỏi các DN nhà nước đang thực hiện trong thời gian qua.

Cùng với đó, phải đẩy mạnh tái cơ cấu, cổ phần hóa DN nhà nước. Hiện nay, nhiều DN nhà nước vẫn xảy ra tình trạng nợ nần, được mệnh danh là những “quả đấm thép” nhưng đầu tư thua lỗ nên hết sức khó khăn.

Lê Thúy 
 

Ý kiến bạn đọc ()