Diễn đàn
18/10/2017 02:24 PM +07:00
08/06/2017 07:17 AM +07:00

Làm gì để lợn, gà “xuất ngoại”?

Sản phẩm của ngành chăn nuôi Việt Nam luôn được đánh giá là hấp dẫn và thừa tiềm năng xuất khẩu nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế này. Số nước nhập khẩu chính ngạch của sản phẩm chăn nuôi Việt chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Do vậy, không ít cuộc “khủng hoảng thừa” liên tục bủa vây ngành chăn nuôi trong nhiều năm.

 

Tại hội nghị “Hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu (XK) sản phẩm chăn nuôi” ngày 7/6, ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), chia sẻ, người nước ngoài sang Việt Nam ai cũng khen món ăn Việt Nam ngon, nhưng lại từ chối nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi của chúng ta.

Báo cáo bàn giải pháp xúc tiến XK thịt lợn, thịt gà và trứng gia cầm sang các nước (Cục Thú y) cũng cho thấy, số thị trường XK chính ngạch của sản phẩm chăn nuôi Việt rất ít.

Xuất khẩu khiêm tốn

Ông Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y, cho biết, tổng đàn lợn năm 2016 đã đạt trên 29,07 triệu con, tăng gần 1,33 triệu con so với năm 2015. Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2016 đạt 361,721 triệu con, tăng 19,814 triệu con so với năm 2015. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chỉ dành cho tiêu dùng nội địa.

Hiện Việt Nam đã và đang XK chính ngạch thịt lợn sữa và thịt lợn choai đông lạnh sang Hồng Kông, Malaysia. Cả nước có 6 cơ sở giết mổ (CSGM) XK sang Hồng Kông và hai CSGM XK sang Malaysia. Năm 2016, sản lượng thịt lợn XK đạt khoảng 11.000 tấn, trị giá gần 100 triệu USD. Trong 5 tháng đầu năm 2017, đạt khoảng 10.600 tấn, trị giá gần 46 triệu USD.

Về thịt gà, chỉ sản xuất và tiêu thụ ở trong nước, chưa có sản phẩm thịt gà XK. Hiện mới có hai công ty đăng ký XK sản phẩm thịt gà đã qua chế biến nhiệt sang Nhật Bản là công ty TNHH Koyu & Unitek và công ty TNHH CP Việt Nam. Về trứng gia cầm, hiện có 5 cơ sở đã và đang XK (trứng vịt muối, trứng vịt bắc thảo, trứng chim cút đóng hộp) sang một số thị trường như Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản.

Theo ông Đông, nguyên nhân là do tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn đan xen với các cơ sở chăn nuôi tập trung nên nguy cơ về dịch bệnh (như bệnh dịch cúm gia cầm và một số bệnh khác) còn khá cao, thỉnh thoảng vẫn xảy ra những ổ dịch cúm gia cầm tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, gây ảnh hưởng đến việc XK sản phẩm gia cầm.

Bên cạnh đó, chúng ta chưa hình thành được các chuỗi sản xuất thịt gà có kiểm soát theo hình thức khép kín đến sản phẩm XK và giá thành chăn nuôi gà còn cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Hầu hết CSGM đều không có hệ thống cấp đông, bảo quản lạnh, không có chuỗi sản xuất thịt bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm đến sản phẩm XK.

Trong khi đó, tất cả các nước có nhu cầu nhập khẩu đều yêu cầu phải có chuỗi sản xuất khép kín đến sản phẩm cuối cùng, bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm để XK…

Là doanh nghiệp (DN) XK thịt lợn, ông Nguyễn Đức Hoàng – Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Thắng Lợi, cho biết “Có nhiều khách hàng từ Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc đặt vấn đề muốn nhập khẩu lợn choai và lợn sữa của Việt Nam. Nhưng tại sao ta không xuất được, hoặc có XK lại phụ thuộc vào Trung Quốc. Mấu chốt là an toàn thực phẩm và điều kiện nhà máy giết mổ hoặc chế biến”.

“Chúng tôi không cần xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường. Bởi vì, đi tìm khách hàng đều là vô nghĩa nếu như thú y hai nước không thông thương”, ông Hoàng chia sẻ. Ông Hoàng cho biết DN ông đã phải trả giá cho điều này. Năm 2014, DN ông xúc tiến XK thịt sang Singapore. “Tuy nhiên, ngay lập tức, chúng tôi nhận được một câu trả lời ngắn gọn là nước này không xem xét hồ sơ vì Việt Nam có dịch lở mồm long móng”.

Các sản phẩm chăn nuôi chưa tận dụng được tiềm năng xuất khẩu

Giải pháp khắc phục

Theo ông Hoàng, muốn XK được phải đáp ứng tốt hai điều kiện là an toàn thực phẩm và điều kiện nhà máy (trong đó thú y là điều kiện tiên quyết). Sau đó, chúng ta mới bàn về giá cả, chất lượng sản phẩm…

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Quyền, Trưởng Ban Đề án XK công ty TNHH Koyu & Unitek Đồng Nai, cho rằng chúng ta phải đặt vấn đề thỏa thuận các tiêu chí thú y giữa hai nước, sau đó chúng ta mới làm được những việc khác. Nếu hai quốc gia không thỏa thuận xong vấn đề thú y, mọi hoạt động xúc tiến thương mại của DN sẽ không thể thực hiện được.

Trong bối cảnh Việt Nam đang trải qua đợt khủng hoảng thịt lợn kéo dài nhiều tháng gần đây do cung vượt cầu, hướng đến thị trường XK thịt lợn là việc cần phải bàn tới.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh còn gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, Việt Nam chưa có vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh được Tổ chức OIE công nhận.

Cục Thú y thừa nhận, tháng 2/2015, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng vùng an toàn dịch bệnh lợn tại Thái Bình, Nam Định. Nhưng do các địa phương không có kinh phí để xây dựng nên đề án đến nay vẫn đang “treo”.

Bà Hoàng Thị Tố Nga, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Nam Định, chia sẻ, Nam Định là một trong hai tỉnh cùng với Thái Bình được bộ chọn là tỉnh làm thí điểm an toàn dịch bệnh nhưng thực sự khi tiếp nhận đề án đó, Nam Đình gặp rất nhiều khó khăn về vấn đề kinh phí.

“Chúng tôi tiến hành từng bước xây dựng nhưng khó thực hiện. Tỉnh không có chút kinh phí nào nên chúng tôi phải lồng ghép đề tài, kinh phí để xây dựng. Đến nay, mới có hai xã được công nhận là vùng an toàn dịch bệnh. Thời gian tới, nếu cơ sở vùng an toàn dịch bệnh không có DN tham gia sẽ khó thực hiện”, bà Nga cho biết.

Trước thực trạng này, các DN kiến nghị nên đẩy mạnh an toàn cơ sở theo điểm trước, còn vùng sản xuất an toàn cần làm lâu dài. “Chúng ta có thể thực hiện ngay xác nhận cơ sở sản xuất an toàn dịch bệnh để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN trong quá trình XK”, đại diện một DN đề xuất.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi, khẳng định, khơi thông và mở rộng thị trường XK sản phẩm chăn nuôi là hướng đi tất yếu. Nếu không XK được, chúng ta sẽ quay lại bài toán “lúc thừa, lúc thiếu” mà cũng không có Chính phủ nào khi nào cũng đi giải cứu.

Theo ông Sơn, đã đến lúc cần có chiến lược bài bản bàn về câu chuyện XK từ quy hoạch vùng chăn nuôi, đảm bảo an toàn dịch bệnh, định hướng thị trường đến hỗ trợ DN xúc tiến thương mại… “Những việc này cần làm quyết liệt thì 5 – 10 năm nữa, chúng ta mới XK được sản phẩm chăn nuôi mang thương hiệu “Made in Vietnam”.

Lê Thúy

Ông Vũ Văn Tám - Thứ trưởng Bộ NN&PTNT

Tái cơ cấu ngành chăn nuôi phải đi vào đảm bảo những yêu cầu về kỹ thuật, nhất là kiểm dịch, chất lượng sản phẩm, qua đó đảm bảo an toàn dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước cũng như XK. Trong khi thị trường trong nước và thế giới gần như đã mở hết cỡ, không nên quan niệm bán sản phẩm chăn nuôi ở nước ngoài mới gọi là XK; ngoài ra, chúng còn phải cạnh tranh với cả những sản phẩm nhập ngoại ngay ở thị trường trong nước.

Ông Nguyễn Thanh Sơn - Viện trưởng Viện Chăn nuôi

Đến lúc cần xem xét chăn nuôi có điều kiện, sản xuất có điều kiện vì với một liên vùng, không thể tăng đàn một cách ồ ạt, chưa nói tới dư thừa, sức chịu tải môi trường cũng sẽ không chịu nổi. Thế giới họ quy định rất chặt điều này, mở một trang trại chăn nuôi lợn cần nhiều điều kiện khắt khe, nhất là môi trường. Còn ở Việt Nam cứ thích mở là mở, thậm chí Bộ NN&PTNT cũng không thể can thiệp.

Ông Nguyễn Văn Quyền - Trưởng Ban Đề án XK công ty TNHH Koyu & Unitek Đồng Nai

Nhà nước, Bộ NN&PTNT và Cục Thú y phải là cơ quan hướng dẫn DN về chuỗi sản xuất sản phẩm gia cầm, xây dựng cơ sở hạ tầng, kiểm soát sản xuất chế biến, truy xuất nguồn gốc. Như vậy, DN sẽ rất thuận lợi trong việc hoàn thiện hồ sơ XK cũng như mở rộng thị trường XK, tiêu thụ tốt lượng thịt sản xuất trong nước. Qua đó, thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam phát triển, xóa bỏ tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa.

 

Ý kiến bạn đọc ()