Diễn đàn
23/11/2017 06:44 AM +07:00
08/11/2017 08:01 AM +07:00

Logistics “kìm chân” xuất khẩu

Nếu không có những thay đổi tích cực và giải pháp mạnh mẽ hơn nữa, các chi phí logistics cộng với gánh nặng của các chi phí không chính thức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá thành hàng hoá và là rào cản ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí chuỗi giá trị hàng hoá của Việt Nam cũng như năng lực cạnh tranh của hàng Việt trên thị trường quốc tế.

 

Dự báo của Bộ Công Thương cho thấy, năm 2017, kim ngạch xuất khẩu (XK) của Việt Nam sẽ đạt 210 tỷ USD, tăng trưởng 18,9% so với 2016. Do vậy, ngành logistics càng phải coi trọng vì góp phần làm tăng giá trị gia tăng và tạo năng lực cạnh tranh cho hàng hoá Việt. 

DN xuất khẩu “phàn nàn”…. 

Tuy nhiên, thực tế chi phí logistics vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí XK hàng hoá của Việt Nam. Khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) năm 2015 cho thấy 33,33% công ty đánh giá chi phí logistics chiếm 5 – 15% trị giá lô hàng XK, thậm chí 16,67% công ty cho rằng tỷ trọng này là 35 – 45%.

Sau hai năm, đến nay, tình trạng này chưa có dấu hiệu cải thiện. Mới đây, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, phàn nàn rằng một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn tới sức cạnh tranh của ngành dệt may chính là chi phí logistics. 

Nguyên nhân dẫn tới chi phí logistics cao là quy định về phí và lệ phí ở mức chưa hợp lý, hoạt động logistics của các DN Việt Nam chưa mong muốn. 

Ông Đặng Vũ Thành, Phó Chủ tịch VLA, thừa nhận nếu tổng kim ngạch XK dệt may đạt 30 tỷ USD/năm, chi phí logistics chiếm 2,79 tỷ USD, cùng với chi phí vận chuyển khác là 1,70 tỷ USD. 

Ngoài ra, theo các DN, việc sử dụng dịch vụ logistics không hợp lý đã khiến cho các DN thiếu chủ động trong việc cung ứng nguồn nguyên liệu, không kiểm soát được thời gian giao hàng cũng như khó kiểm soát được chi phí và rủi ro XK.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu, Bộ Công Thương tính toán, cứ một ngày hàng hoá phải chờ XK, nhập khẩu, thương mại sẽ giảm tới 4%. Do đó, những hạn chế trong logistics thương mại như hiện nay đang là trở ngại lớn trong chiến lược tăng trưởng kinh tế nói chung và XK nói riêng. 

Như vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá XK, logistics đóng một phần không nhỏ nhưng làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành logistics. Ông Nguyễn Xuân Thành, Đại học Fulbright Việt Nam, đánh giá trong 15 năm qua, Việt Nam đã nổi lên thành một nền kinh tế hội nhập thương mại quốc tế sâu rộng.

Việt Nam là nền kinh tế có mức tăng trưởng lượng container thông qua các cảng biển cao nhất với tốc độ 16,0%/năm tính bình quân từ 2000 – 2014. Đến nay, lượng container thông qua cảng của Việt Nam đã vượt Thái Lan.

Tuy nhiên, theo các đánh giá và xếp hạng quốc tế khách quan, năng lực cạnh tranh của chất lượng dịch vụ logistics tại Việt Nam còn rất khiêm tốn.

Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam cho biết chi phí dịch vụ logistics của Việt Nam còn cao, tương đương khoảng 21% GDP năm 2014 (với Trung Quốc tỉ lệ này là 17,8% năm 2011), trong khi với các nước phát triển, chi phí này chỉ chiếm khoảng 10-14% (chẳng hạn như Singapore là 9%). 

Chi phí logistics cao đang làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng Việt trên thị trường quốc tế 

Chi phí logistics vẫn quá cao

Theo phân tích của Ngân hàng Thế giới (WB), việc nâng cao tính tin cậy của chuỗi cung ứng và tăng cường hiệu quả của hoạt động logistics sẽ giúp các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ vận tải và hậu cần, các cơ quan quản lý thương mại giảm đi những thiệt hại, và giảm chi phí kinh doanh.

Tuy nhiên với Việt Nam, vấn đề chi phí logistics còn quá cao cũng được WB đề cập đến như là một hạn chế mà logistics Việt Nam cần phải nhanh chóng cải thiện để đóng góp hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị hàng hóa của Việt Nam.

Cụ thể, WB đưa ra một bảng phân tích các chi phí logistics chính thức để XK một lô hàng là 1 container 40 feet (hàng bách hóa) từ Việt Nam đi Los Angeles (Hoa Kỳ) với trị giá XK khoảng 90.000 USD của một công ty sản xuất (thời điểm năm 2012). 

Theo đó, chi phí logistics nội địa chiếm khoảng 22,59% trên tổng chi phí logistics, trong đó chiếm tỷ trọng chủ yếu trong chi phí logistics nội địa là phí xếp dỡ tại cảng (5,13%) và cước vận tải đường bộ (7,31%).

“Như vậy, khi hàng hóa XK của Việt Nam được vận chuyển quốc tế bởi các hãng tàu nước ngoài thì hơn 70% tổng chi phí logistics của Việt Nam sẽ rơi vào tay các nhà cung cấp dịch vụ vận tải biển ngoại”, WB đánh giá. 

Ngoài ra, WB cũng tính toán hai khoản chi không chính thức (còn gọi là chi phí trà nước) đó là: Chi để làm thủ tục khai báo hải quan được nhanh chóng khoảng 21 USD/ container 40feet. Chi bồi dưỡng chặng vận tải nội địa khoảng 55,5 USD/ container 40feet.

Điều này cho thấy, nếu so sánh các chi phí không chính thức so với tổng chi phí logistics nội địa, có thể thấy rằng các khoản chi này chiếm tỷ trọng rất lớn, đến 13,4%.

Từ những phân tích trên của WB, có thể thấy rằng chi phí logistics của Việt Nam chưa thực sự cạnh tranh.

Cụ thể là chi phí lưu kho – tồn hàng tại các cảng biển, cảng hàng không do thủ tục của chủ hàng còn cao do chi phí phát sinh khi hàng phải chờ đợi làm thủ tục tại cảng và sân bay (năm 2015 là 121 triệu USD, dự báo con số này sẽ là 182 triệu USD vào năm 2020). Vấn đề này đã gây ra thiệt hại về chi phí cho cả DN logistics và chủ hàng về sản xuất/chi phí cơ hội. 

Ngoài ra, chi phí vận tải cao cũng là một yếu tố tác động đến chi phí logistics của Việt Nam. Việt Nam đang phải chịu chi phí vận chuyển quá cao, chiếm 30 – 40% giá thành sản phẩm, trong khi tỷ lệ này chỉ khoảng 15% ở các quốc gia khác”. 

Điều này làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của hàng hoá của các DN Việt Nam so với các quốc gia khác.

Do vậy, một số ngành hàng có tổng chi phí logistics chiếm tỷ trọng từ trên 30% trong tổng giá thành hàng hóa chẳng hạn như gạo, rau quả và nội thất. Để xem xét giải pháp giảm chi phí logistics của Việt Nam, trước tiên cần chú trọng cải thiện và giảm chi phí vận tải. 

Một trong những giải pháp được nêu ra là cải cách thủ tục hải quan, 89% công ty được khảo sát trong nghiên cứu của VLA năm 2015 cho rằng đây là một vấn đề cần chú trọng để cải thiện chuỗi giá trị hàng hóa XK của Việt Nam. 

Cũng là một vấn đề cần chú tâm cải thiện để các công ty logistics có thể hưởng lợi từ tính ưu việt của việc khai báo hải quan tự động, qua đó giảm chi phí và tăng tính minh bạch. 

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng khuyến nghị với chủ hàng rằng xuất phát từ thực tế hiện nay, dù là hàng container, các công ty XK vẫn sử dụng các điều kiện thương mại truyền thống như FOB (80.49%) và CIF (78.05%). Do đó, các công ty logistics cần chú ý tư vấn khách hàng sử dụng các điều kiện thương mại phù hợp với hàng container như FCA, DDP, CIP… để người XK giảm trách nhiệm và chi phí không cần thiết. 
 

Lê Thúy 
 

Ông Lê Duy Hiệp - Tổng giám đốc công ty CP Transimex (TMS) 

Các DN cần thay đổi phương pháp nhập khẩu nguyên phụ liệu theo điều kiện FOB, giúp cho DN có cơ hội giảm giá thành, tăng tỷ suất lợi nhuận. Ngoài ra, các DN nếu thay đổi việc sử dụng nhiều nhà cung cấp nguyên phụ liệu nhỏ lẻ bằng một nhà cung cấp lớn, có thể cung cấp tất cả các dịch vụ theo cơ chế một cửa cũng sẽ giúp DN cắt giảm giá thành. 

Ông Trương Văn Cẩm - Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam

Theo kết quả khảo sát chi phí logistics của một số lô hàng, cước vận tải nội địa trung bình chiếm 9% tổng chi phí logistics của một lô hàng XK, do đó việc tập trung giải quyết vấn đề cước vận tải nội địa là vô cùng quan trọng, qua đó góp phần giảm giá thành hàng hóa XK, tăng giá trị thu về cho DN XK. Để thực hiện, cần chú trọng chuyển hướng vận tải nội địa từ đường bộ sang các phương thức vận tải khác có giá cước vận tải cạnh tranh hơn như đường sắt, đường thủy nội địa và đường biển.

Ông Đặng Vũ Thành - Phó Chủ tịch VLA

DN xuất nhập khẩu và các DN cung cấp dịch vụ logistics hợp tác với nhau sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của hai phía. Để hiện thực hoá điều này, cần phải tìm hiểu về hoạt động, các điểm mạnh, điểm yếu để bổ sung cho nhau trên tinh thần thiện chí cùng có lợi. 

 

Ý kiến bạn đọc ()