Diễn đàn
15/12/2017 01:44 PM +07:00
27/11/2017 08:12 AM +07:00

Năng suất thấp, tăng trưởng khó bền!

Năng suất lao động là một chỉ số chính của thị trường lao động, phản ánh tăng trưởng kinh tế bền vững, khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong sử dụng lao động của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam hiện tại vẫn đang có một khoảng cách lớn về năng suất lao động giữa các ngành, và rất thấp khi so sánh với các nước khác trong khu vực.

 

Theo các chuyên gia kinh tế, kinh tế Việt Nam đã có giai đoạn phát triển liên tục theo chiều rộng, khiến nguồn lực vật chất như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên được khai thác gần như triệt để. Mức đóng góp của các yếu tố vốn và lao động lên tới 80%, đóng góp từ năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) chỉ khoảng 20%.

Năng suất thua xa khu vực

Số liệu thống kê cho thấy, giai đoạn 2006-2016, mức đóng góp của năng suất lao động (NSLĐ) vào tốc độ tăng GDP của toàn nền kinh tế khá lý tưởng, đạt 65,7% bình quân cả giai đoạn. 

Số liệu về tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm bình quân giai đoạn 2006-2016 của 20 ngành kinh tế cấp 1 cho thấy một bức tranh sán lạn, tất cả các ngành kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng dương, tuy nhiên có tới 11/20 ngành kinh tế đạt được giá trị tăng trưởng dương không phải do đóng góp chủ yếu của tăng NSLĐ. 

Trong đó, 4/20 ngành suy giảm NSLĐ bình quân trong giai đoạn 2006-2016 và 7/20 ngành tăng trưởng giá trị tăng thêm dựa vào tăng trưởng lao động (đóng góp của tăng NSLĐ trong tốc độ tăng trưởng chưa đạt mức lý tưởng 60%). 

Ths. Phan Thị Minh Hiền, Ban Nghiên cứu và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia, cho rằng Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức đáng kể về năng suất, nếu không được giải quyết, nó sẽ hạn chế tiềm năng tăng trưởng của đất nước. 

“Phân tích về tỷ lệ đóng góp của NSLĐ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế không bền vững, phần lớn các ngành, các lĩnh vực kinh tế đang tăng trưởng theo bề rộng. Có nghĩa là trên con đường hướng tới một nền kinh tế sáng tạo, tạo ra giá trị gia tăng cao mà Việt Nam đang chọn sẽ không có đích nếu chúng ta không đổi mới sáng tạo, nâng cao khoa học công nghệ, năng lực nghiên cứu phát triển và nâng cao NSLĐ”, bà Hiền nói.

Ngoài ra, theo Ts. Cao Ngọc Lân, Trưởng Ban Phát triển vùng, Viện Chiến lược phát triển, sau hơn 30 năm, NSLĐ của Việt Nam so với các nước trong khu vực đã được cải thiện, nhưng tốc độ còn chậm. Tuy nhiên, nếu so sánh dựa trên giá trị tuyệt đối, bức tranh vị thế của Việt Nam không thực sự sáng sủa. 

Khoảng cách chênh lệch (tính theo số tuyệt đối) về NSLĐ giữa Việt Nam và các nước nói trên nhìn chung đều tăng qua từng năm trong thời kỳ 1980-2016. Cụ thể, nếu chênh lệch về NSLĐ giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1980 là 5.988 USD thì đến năm 2016, con số này tăng lên 19.847 USD. 

Tương tự, chênh lệch giữa Việt Nam và Indonesia đã tăng từ 7.603 USD lên 14.900 USD trong thời kỳ trên. Giữa Việt Nam và Malaysia, con số chênh lệch còn lớn hơn rất nhiều, từ 21.504 USD năm 1980 lên 52.084 USD năm 2016. 

Ts. Lân đánh giá kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng theo chiều rộng và vẫn còn cách khá xa so với nhóm các nước tăng trưởng dựa vào chiều sâu.

Năng suất lao động đang “kìm chân” tăng trưởng kinh tế

Hội nhập có làm năng suất tăng?

Ths. Lê Tất Phương, Ban Phân tích và Dự Báo, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội quốc gia (Bộ KH&ĐT), cho rằng nguyên nhân là do tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở Việt Nam còn quá lớn, mặc dù đang có xu hướng giảm song con số này vẫn luôn chiếm trên 80% tổng lực lượng lao động. 

“Có một nghịch lý đang tồn tại là: “Lực lượng lao động qua đào tạo của Việt Nam thiếu những người đáp ứng được yêu cầu công việc nhưng lại thừa những người không làm được việc”, ông Phương nói. 

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á. Chất lượng lao động không cao dẫn đến hệ quả là NSLĐ thấp. 

Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mới đây, NSLĐ của Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/5 so với Malaysia và 2/5 Thái Lan và 1/15 lao động Singapore.

Vấn đề đặt ra là thời gian qua, Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng, nhưng dường như hội nhập chưa giúp NSLĐ tăng. Ts. Trần Toàn Thắng, Phó trưởng ban Môi trường Kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương), cho rằng hội nhập có thể tạo ra tác động tiêu cực tới năng suất nếu như năng lực hấp thụ công nghệ của DN kém, môi trường kinh doanh, đầu tư không được cải thiện phù hợp. 

Nghiên cứu của WB năm 2017 đã cho thấy, trong khi một tỉ lệ lớn các DN chi tiêu cho R&D (nghiên cứu và phát triển), tỷ trọng số tiền trung bình DN thực chi trong tổng doanh thu của Việt Nam vẫn thấp hơn hầu hết các nước Đông Nam Á khác và tương đối ít DN ở Việt Nam đầu tư vào những kiến thức đã được cấp phép hay cấp bằng sáng chế để hỗ trợ cho những nỗ lực đổi mới của họ. 

“Nếu so sánh tốc độ mở cửa, cắt giảm thuế quan của Việt Nam với một số nước Đông Nam Á thời gian qua và tỷ lệ DN chi tiêu cho đổi mới công nghệ thì rõ ràng là hội nhập tác động ít hơn tới đổi mới công nghệ ở Việt Nam”, ông Toàn đánh giá.

Tương tự như vậy, với dòng đầu tư FDI, tác động tích cực tới năng suất chỉ xảy ra khi DN trong nước có đủ năng lực học hỏi công nghệ mới, hoặc có đủ năng lực cung cấp đầu vào cho DN nước ngoài. 

Tuy nhiên, theo ông Toàn, đối với Việt Nam, do những yếu kém của nội tại DN và nền kinh tế nên việc tận dụng và phát huy các hiệu ứng tích cực lan tỏa từ hội nhập đến năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn phần nào bị hạn chế. 

Những nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ rằng nhập khẩu đầu vào có tác động tích cực tới cải thiện năng suất của DN Việt Nam. FDI có tác động lan tỏa âm tới DN trong nước trong cùng ngành trong khi có thể tạo ra tác động tích cực với các DN có liên kết dọc. Tuy nhiên, tác động qua liên kết dọc là khá yếu. 

Các nghiên cứu của Việt Nam cũng chỉ rõ rằng mặc dù Việt Nam đã và đang tiến hành mở cửa hội nhập, tác động tích cực tới năng suất là không nhiều. Vì vậy, bên cạnh tăng cường hội nhập, Nhà nước cần tăng cường cải cách kinh tế và thể chế trong nước để tận dụng được các kênh tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực.

Lê Thúy
 

Ts. Cao Ngọc Lân - Trưởng Ban Phát triển vùng, Viện Chiến lược phát triển

Việt Nam vẫn chưa có một Hội đồng/Ủy ban cấp quốc gia về năng suất lao động. Do vậy, cần nghiên cứu thành lập một Hội đồng Quốc gia về Năng suất. Đồng thời, thành lập một cơ quan chịu trách nhiệm về triển khai thực hiện chính sách năng suất giống như NPB của Singapore, trên cơ sở Viện Năng suất Việt Nam (hiện trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ). 

Bà Nguyễn Lan Hương - Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động xã hội (Bộ LĐ-TB&XH)

Năng suất và sáng tạo đổi mới được xác định là hai yếu tố, là điều kiện quan trọng hàng đầu để chủ động hội nhập quốc tế trong bối cảnh xuất hiện làn sóng Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cũng như đáp ứng đòi hỏi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tiếp cận, phát huy và làm chủ công nghệ số trong hoạt động sản xuất. 

Ông Đặng Huy Đông - Thứ trưởng Bộ KH&ĐT

Chúng ta hay nói câu thừa thầy thiếu thợ nhưng xem tỷ lệ thì chúng ta thiếu cả thầy, cả thợ nhưng thiếu thợ nhiều hơn. Điều này cũng phản ánh rõ xu thế vào đại học, xu thế phân luồng hiện nay trong thực tế. Nguồn nhân lực này muốn đóng góp tốt hơn vào tăng trưởng thì trước tiên phải phù hợp với mô hình kinh tế. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tập trung cho nhóm công nhân kỹ thuật bậc trung để đáp ứng nhu cầu nền kinh tế. 

 

Ý kiến bạn đọc ()