Diễn đàn
23/01/2018 07:00 PM +07:00
15/12/2017 08:07 AM +07:00

Nguy cơ phụ thuộc năng lượng nhập khẩu

Từ một quốc gia xuất khẩu năng lượng, Việt Nam đang đối mặt nguy cơ phải chuyển sang nhập khẩu (NK). Điều đáng quan tâm ở chỗ, tiềm năng phát triển của Việt Nam vẫn được đánh giá là cái gì cũng có, rất vô tận, nhưng cơ chế sử dụng, chiến lược và quy hoạch phát triển tổng thể ngành năng lượng đang có vấn đề.

 

Các thông tin tại Hội thảo Kinh tế năng lượng và triển vọng vừa diễn ra cho thấy những “nút thắt” trong phát triển ngành năng lượng phải kể tới như năng lượng tái tạo (NLTT) chưa hấp dẫn nhà đầu tư, dầu khí ngày

càng khó khai thác…Tiềm ẩn nhập khẩu… vượt kế hoạch

Ông Nguyễn Văn Vy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA), cho biết giai đoạn 1995 – 2015, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu năng lượng, song từ năm 2015 đến nay chuyển sang NK khoảng 2 – 3% mỗi năm.

Theo Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỷ lệ NLTT trong tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp năm 2015 khoảng 31,8%; khoảng 32,3% vào năm 2030 và tăng lên đạt khoảng 44% vào năm 2050. 

Đồng thời, năng lượng NK năm 2015 khoảng 2,7 triệu TOE (Ton of Oil Equivalent – tấn dầu tương đương) chiếm 3,5% tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp; dự báo năm 2030 NK 47 triệu TOE, chiếm 24,3%; năm 2050 NK 22,1 triệu TOE, chiếm 7,1%. 

Tuy nhiên, VEA cảnh báo trường hợp không phát triển nhanh nguồn NLTT (không kể nguồn thủy điện), năng lượng NK sẽ tăng lên rất cao: Năm 2030 NK 78,7 triệu TOE, chiếm 41,1%; năm 2050 NK 129 triệu TOE, chiếm 41,2%.

Theo ông Vy, nguyên nhân là do tiềm năng nhiều nhưng nhu cầu tiêu thụ cũng tăng nhanh, thế giới tăng 2 – 3% thì Việt Nam tăng 12 – 15%. Trong khi đó đầu tư cho năng lượng lớn, tổng đầu tư chiếm 30 – 35% đầu tư xã hội. 

Bên cạnh đó, về nguồn năng lượng dầu khí, ông Vy cho biết một số dự án phát triển năng lượng chậm tiến độ, như dự án đưa khí vào bờ của mỏ MP3, trên kế hoạch đưa vào năm 2015 nhưng lình xình do chuyển chủ đầu tư. Tình trạng tương tự cũng diễn ra với dự án mỏ Cá Voi Xanh… khiến ngành dầu khí đối mặt nguy cơ phải NK cao. 

Phân tích cụ thể, ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Năng lượng và môi trường, cho biết Việt Nam đang đối mặt với nguồn cung dầu khí ngày càng suy giảm, khai thác mỏ cũ khó hơn rất nhiều. Trong khi đó, với mỏ mới tìm và khai thác được, chi phí sẽ rất lớn.

“Trước đây, ngành dầu khí cũng mong muốn tìm được mỏ khí lớn ở cả 3 miền Bắc, Nam, Trung kết nối các vùng trên cả nước với nhau tương tự như cách xây dựng đường dây truyền tải điện siêu cao áp 500kV Bắc – Nam. Tuy nhiên, thông tin về tiềm năng trữ lượng dầu khí chưa cho phép chúng ta có ý chí để đạt mong muốn đó”, ông Sơn nói.

Theo ông Sơn, Việt Nam có tiềm năng nhưng đầu tư công nghệ để khai thác không đơn giản. Chúng ta đang đứng trước lo ngại nhiều loại năng lượng trong thời gian tới phải NK.

Theo ông Nguyễn Hồng Minh, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, đây là giai đoạn nguồn trữ lượng dầu khí khó tìm hơn, cũng như khai thác ở các mỏ lớn đang bị suy giảm mạnh. Hiện nay, việc duy trì đầy đủ năng lượng của đất nước có thể không đáp ứng được, chúng ta bắt đầu phải bước sang giai đoạn NK dầu khí từ nước ngoài.

Hơn nữa, ông Minh cho biết, nếu Lọc dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động, Việt Nam lập tức phải NK khoảng 10 triệu tấn dầu từ Trung Đông phục vụ cho hoạt động của nhà máy này.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang cố gắng tìm kiếm, phát triển thêm nguồn năng lượng mới, nhưng đến giờ, trong quy hoạch ngành mà Chính phủ phê duyệt cũng nhìn thấy không ít khó khăn về gia tăng trữ lượng trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu trong nước. 

“Trữ lượng không duy trì được mức cũ, trong khi xã hội phát triển, nhu cầu tăng lên, buộc phải NK để đảm bảo an ninh năng lượng. Dự báo trong quy hoạch của ngành dầu khí những năm sau sẽ còn khó khăn hơn rất nhiều”, ông Minh nói. 

Điện sạch vướng cơ chế, dầu khí khó khai thác đang khiến Việt Nam đối mặt nguy cơ phải nhập khẩu năng lượng 
 

Xây dựng chiến lược năng lượng mới

Trước thực trạng phải NK năng lượng, Ts. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận xét Việt Nam có tiềm năng phát triển năng lượng vô tận, mất cái này lại có cái khác. Tuy nhiên, có nhiều nhưng cơ chế sử dụng, chiến lược và quy hoạch phát triển đang có vấn đề. 

Câu chuyện đặt ra cần phải làm gì khi công nghệ thế giới đang thay đổi. “Tôi nghĩ công nghệ thay đổi cực kỳ nhanh, cạnh tranh cực kỳ lớn. Nếu thế giới làm nhiều NLTT, không biết Việt Nam có cần sản xuất năng lượng nữa không”, ông Thiên đặt vấn đề.

Ông Thiên cho rằng cần phải có quy hoạch và định hướng cụ thể, trong đó phải bỏ đi cách tiếp cận chỉ có Nhà nước mới được làm. Đề án phát triển phải dựa vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp.

Nhìn vào ngành năng lượng Việt Nam, Ts. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế, nhận xét, cơ cấu năng lượng có nhiều điểm khác với thế giới. Cụ thể, thủy điện chiếm 40 – 50% – cao hơn nhiều nước trong khu vực.

Trên thế giới, độ co giãn giữa cầu so với cung ngày càng giảm, ở Việt Nam do tốc độ tăng trưởng cao nên cầu tăng nhanh hơn cung. Về công nghệ, Việt Nam đang muốn cái mới như NLTT nhưng thực tế cái mới thì nhỏ, cái cũ còn nhiều. Dự báo 5 – 7 năm tới chưa có bước ngoặt nhanh chóng trong phát triển năng lượng.Vì vậy, ông Thành đánh giá, nhìn ngành năng lượng cần phải tổng thể hơn rất nhiều, nếu không sẽ sai lầm.

Trước mắt là cần gỡ bỏ những vướng mắc trong việc chấm dứt phát triển năng lượng hạt nhân; khủng hoảng lãnh đạo ở PVN; vất vả của Chính phủ trong điều chỉnh giá điện; tăng hay không phí bảo vệ môi trường cho xăng dầu; tận dụng nguồn tài nguyên ở biển hiệu quả.

Ông Thành đề xuất cần xây dựng chiến lược năng lượng mới. Chiến lược phải gắn với cung và cầu thị trường. Ví dụ, trước kia thị trường ngành điện chỉ ở trong nước, giờ phải tính tới xuất khẩu. 

Liên quan tới những vướng mắc phát triển NLTT, ông Vy đề xuất Chính phủ cần điều chỉnh lại chiến lược phát triển NLTT tầm nhìn đến năm 2050 và các nghị định khác sát với thực tế hiện nay.

Việt Nam được một số tổ chức nước ngoài như Tây Ban Nha, Đức giúp làm quy hoạch về điện gió, mặt trời, nhưng các số liệu quy hoạch đó chỉ là số liệu tổng quan, bây giờ cần phải quy hoạch rõ các số liệu tương đối chính xác, sát với thực tế các địa phương, vùng, miền. Cần phải quy hoạch hệ thống lưới điện truyền tải, đồng bộ với các nguồn NLTT tại các địa phương.

Đồng thời, Nhà nước cần có cơ chế chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho phát triển NLTT như: cấp đất, miễn thu thuế trong những năm đầu khi dự án chưa thu hồi được vốn, miễn thuế xuất nhập khẩu vật tư thiết bị NLTT…

Đối với các doanh nghiệp trong nước, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về vốn đầu tư cho các dự án NLTT. Nhà nước cần sớm ban hành thêm giá điện gió kể cả trong đất liền và ngoài khơi; giá điện sinh khối, giá điện sinh học để tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực NLTT.

Ông Nguyễn Đình Hiệp, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội KH&CN sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam, cho rằng việc duy trì giá điện hơn 2 năm không thay đổi, dù các yếu tố đầu vào đều thay đổi đã làm cho giá điện đang rẻ một cách tương đối, thiếu động lực đầu tư cho các dự án điện sạch. Theo cơ chế giá cũ, điện gió có biểu giá điện hỗ trợ (FIT) quá thấp, chưa tính chi phí truyền tải. 

Trước đó, tại Diễn đàn Doanh nghiệp thường niên 2017, các nhà đầu tư nước ngoài phàn nàn chưa nhìn thấy khung giá điện giai đoạn 2016 – 2020, do vậy không biết giá điện sẽ thay đổi thế nào nên kém “mặn mà” đầu tư vào các dự án điện sạch.

Lê Thúy
 

Ts. Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam 

Việt Nam có cơ hội to lớn để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và trong nước để đạt được mục tiêu năng lượng sạch trong tương lai. Nhưng đến nay, các thủ tục và nỗ lực liên quan tới 2 chương trình thiết yếu là biểu giá điện và hợp đồng mua bán điện mặc dù đã được bắt đầu nhưng vẫn còn chậm chạp và rườm rà, chưa đủ hiệu quả để đạt được các mục tiêu về sử dụng năng lượng sạch của Việt Nam.


Ts. Võ Trí Thành - Chuyên gia kinh tế

Khi bàn tới kinh tế năng lượng thì phải nhìn rộng ra xu thế toàn cầu, cách mạng công nghiệp 4.0. Lâu nay, chúng ta bàn lệch, sử dụng năng lượng hiệu quả không cao. Đồng thời, cần có chiến lược năng lượng không chỉ sản xuất mà cả tiêu dùng, vấn đề mới được giải quyết.

Ông Tomaso Andreatta - Phó Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam

Khó khăn hiện nay của ngành năng lượng Việt Nam cho thấy nhu cầu thực sự cần cải tổ mạnh mẽ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đồng thời cần có một chiến lược mới về năng lượng. Giờ đây, nhìn ngành năng lượng không chỉ là năng lượng mà còn là dịch vụ, hạ tầng. 

 

Ý kiến bạn đọc ()