Diễn đàn
21/11/2017 12:58 PM +07:00
19/10/2017 07:50 AM +07:00

Nhiều doanh nghiệp “khóc” vì giấy phép con

Cuộc chiến cắt giảm điều kiện kinh doanh đang cho thấy những bước chuyển biến, song điều doanh nghiệp trông chờ nhất là hiệu quả thực tế. Bởi lẽ, những thiệt hại to lớn từ hàng rào giấy phép kinh doanh rất khó nhận ra. Đó không chỉ là thời gian, tiền bạc, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà xa hơn, còn làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Thực tế, cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) không phải là đề xuất mới, thời gian vừa qua được bàn đến nhiều nhưng chưa có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. 

Bà Hương Vũ, Phó Tổng Giám đốc công ty Kiểm toán Ernst & Young (E&Y) Việt Nam, chia sẻ, để hiểu doanh nghiệp (DN), cơ quan quản lý phải trực tiếp ngồi cùng DN mới thấy họ khó khăn như thế nào. “Vấn đề thực thi chính sách của chúng ta quá nhẫn tâm”, bà Hương nói.

Thêm một chữ, DN tốn tỷ đồng 

Bà Hương dẫn chứng, có trường hợp DN nước ngoài tại Việt Nam khi nhập khẩu phải trả thuế nhập khẩu, trung tâm phân tích đưa ra mã số khác nhau, dẫn đến mức thuế khác nhau. Sau đó, đoàn kiểm tra vào và bác bỏ toàn bộ kết luận trước đó, đồng thời áp mức thuế suất 10% và yêu cầu nếu không nộp thuế sẽ đình hàng tại cảng không cho kinh doanh. DN buộc phải nộp thuế và đi kêu cứu cơ quan chức năng.

“Sau hơn một năm, thậm chí hai năm, Tổng cục Hải quan kết luận DN đúng. Lúc đó lượng thuế tồn đọng một, hai năm kia ai sẽ trả lãi?”, bà Hương đặt câu hỏi. 

Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, cho biết, ông đã từng chứng kiến những DN “khóc” trong các hội thảo chỉ vì đơn giản chậm 10 ngày hay 30 ngày xin giấy phép với cơ quan nhà nước có thể không có nghĩa lý gì, nhưng tôi khẳng định một sản phẩm làm ra phải đợi đến 30 ngày mới được bán ra thị trường sẽ giảm tính cạnh tranh, có thể dẫn đến việc DN bị phá sản. 

“Một ngày đối với họ đã như ngồi trên đống lửa. Một giấy tờ, một thủ tục đôi khi khiến DN phát khóc. Vì vậy, các bộ, ngành có thể hiểu, mỗi khi các vị yêu cầu DN cung cấp thêm một giấy tờ nào đó, họ có thể phải chạy đôn chạy đáo.

Điều này góp phần tạo ra “thất bại” cho DN một cách đau đớn. Không phải do thị trường, không phải từ cạnh tranh hay họ kém thông minh, đơn giản chỉ vì thủ tục của chúng ta, hoặc việc giải quyết thủ tục không đúng thời gian”, ông Hiếu nói.

Ông Hiếu chia sẻ: “Một chữ cơ quan quản lý viết có thể gây chi phí cả tỷ đồng cho DN, cho xã hội. Vì vậy, cái quan trọng nhất là chúng ta đưa ra quy định gì, viết cái gì, vừa phải đảm bảo đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, vừa phải thực sự giảm được chi phí cho DN”.

Trong khi đó, nhiều ĐKKD được sử dụng như một công cụ để gạt các DN nhỏ ra khỏi thị trường, ngăn ngừa DN mới tham gia thị trường để giảm áp lực cạnh tranh. Khi đặt ra ĐKKD cao, những DN nhỏ, những DN mới rất khó chen chân vào. Đó có thể là một chiến lược kinh doanh từ việc sử dụng chính sách của một số DN lớn: tìm cách dựng lên các hàng rào điều kiện thật khó, thật cao để đảm bảo giữ vững thị phần, tránh sự cạnh tranh. 

Thực tế cho thấy có rất nhiều quy định quản lý nhà nước như vậy, muốn nhập khẩu ô tô phải có giấy ủy quyền chính hãng của hãng sản xuất mà rất hiếm DN tư nhân trong nước có được; muốn kinh doanh phân phối gas phải có trên 100.000 bình gas, có ít nhất 20 đại lý, phải sở hữu trạm chiết nạp gas; muốn kinh doanh vận tải ô tô phải có ít nhất 20 – 50 xe; muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải có nhà xưởng, trạm xát… Lẽ dĩ nhiên, các mục tiêu được đưa ra tất cả là để bảo vệ người tiêu dùng, bảo đảm an toàn, bảo vệ ngành hàng.

Một chữ cơ quan quản lý viết ra có thể gây chi phí cả tỷ đồng cho DN

Phải thay đổi tư duy quản lý

Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nhận xét, thực ra quản lý nhà nước không hề rẻ, thậm chí là rất đắt. Cơ quan nhà nước hiếm khi biết được những gánh nặng hành chính từ các quy định, luật lệ của Nhà nước tác động lên các DN, cũng như ít có cơ hội nhận biết được những lợi ích to lớn của quá trình đơn giản hóa thủ tục hành chính đem lại. 

“Khi phải đối mặt với gánh nặng quá lớn về quy định thủ tục hành chính, điều kiện khắt khe, người kinh doanh ít động lực để đưa ra hoạt động chính thức, nhiều DN tại các nước đang phát triển lựa chọn chuyển sang hoạt động trong nền kinh tế ngầm (nền kinh tế phi chính thức)”, ông Tuấn cảnh báo. 

Trong khi đó, đề xuất cải cách giấy phép kinh doanh hiện nay vẫn dựa trên sự tự nguyện, tự rà soát, tự đề xuất của các bộ, ngành mà theo ông Tuấn đánh giá là điều này ít tạo ra sự thành công bởi vì hiện nay, chúng ta đang giao cho các bộ, ngành tự rà soát để đề xuất bãi bỏ, chưa có chỉ tiêu rõ ràng, không có một cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và có thẩm quyền quyết định kết quả rà soát đó.

Chưa kể, vẫn phổ biến văn hóa quản lý thích cấp phép, phổ biến xu hướng chọn dễ tránh khó trong quản lý. 

Ông Tuấn cho rằng: “Cấp phép là giải pháp quản lý dễ, ngồi một chỗ và DN, người dân phải đến xin, cơ quan quản lý lại có quyền. Quyền tạo ra tiền ra lợi. Để chủ động từ bỏ cái này hoàn toàn không dễ dàng”. 

Theo ông Tuấn, để tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách ĐKKD, phải hành động thực chất, quyết liệt. Cần có cơ chế giám sát, xử lý bộ, ngành, cơ quan nhà nước không bãi bỏ ĐKKD mà Chính phủ đã yêu cầu và giám sát việc sinh thêm giấy phép mới. Chỉ cần thực hiện hết các giải pháp nêu tại Nghị quyết 19 của Chính phủ ban hành hàng năm đã có thể tạo ra thay đổi lớn. 

Cùng quan điểm, ông Hiếu cũng cho rằng ngay từ khi chúng ta chưa sửa luật, chưa gạch bỏ được những ĐKKD ở trong luật, cần có tư duy làm sao để thủ tục hành chính nhanh hơn, thuận lợi hơn, ít gây tác động, làm mất đi cơ hội kinh doanh của DN. “Biện pháp pháp lý an toàn nhất là phải tiến tới những động thái cụ thể”, ông Hiếu nói. 

Đồng thời bãi bỏ ĐKKD là thay đổi tư duy quản lý nhà nước, bãi bỏ tư duy quản lý trực tiếp can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh để thúc đẩy cạnh tranh, thúc đẩy sự sáng tạo. 

Cần thay đổi phương thức quản lý nhà nước. Chúng ta phải hình dung hiện nay nước ta có hơn 500.000 DN, nhưng sắp tới có thể là 2 triệu, 3 triệu, như vậy việc kiểm soát 100%, cả tiền kiểm và hậu kiểm là điều không thể. 

Phương pháp quản lý rủi ro cần tính đến hai yếu tố: một là hiệu lực (quy định của cơ quan quản lý đặt ra phải đảm bảo được thực thi), hai là tính hiệu quả (chi phí bỏ ra phải phù hợp với lợi ích mang lại cho xã hội). Các bộ, ngành buộc phải phân loại được loại DN, sản phẩm dịch vụ, kèm theo đó là các nguy cơ gây rủi ro thấp hay cao.

Việc tuyên bố cắt giảm 675 ĐKKD của Bộ Công Thương được đánh giá là quyết định chưa từng có trong lịch sử, song bản thân người đứng đầu ngành, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh lo ngại, để làm được điều này không chỉ thay đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm mà là thay đổi tư duy quản lý. Nếu không thống nhất từ trên xuống dưới, nguy cơ “trên cởi dưới nghẽn” – mở cổng nhưng không trổ cửa – là có thể thấy nhãn tiền. 
 

Lê Thúy

Ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Để chỉ rõ ra những quy định nào đang cản trở DN thì cơ quan nhà nước, cộng đồng DN, chuyên gia cần ngồi bàn với nhau và hiện thực nó. Quá trình này phải được làm thường xuyên và liên tục. Về phần Bộ Công Thương, bộ đang rà soát để sắp xếp, cắt bỏ các ĐKKD, không có chuyện cắt rồi lại đẻ thêm các tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định khác. 

Ông Nguyễn Sinh Nhật Tân - Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương

Một điều quan trọng nữa là từ trước đến nay, chúng ta đang quên vai trò của người tiêu dùng, của xã hội trong việc tham gia giám sát. Nhà nước không phải là người duy nhất giám sát, mà cần thúc đẩy sự tham gia giám sát của xã hội. Đây là điều rất cần và quan trọng trong việc quản lý rủi ro. Chúng ta nên chuyển hẳn cách quản lý, từ việc trói DN sang việc tạo ra môi trường linh hoạt, tạo điều kiện cho DN. 

Ông Phan Đức Hiếu - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

Chúng ta đã thấy hệ quả tiêu cực của ĐKKD bất hợp lý trong lĩnh vực xuất khẩu gạo với sự phát triển của DN tư nhân, tới bà con nông dân và tới cả ngành gạo Việt Nam. Nếu chỉ một giấy phép con, một loại ĐKKD vô lý còn tồn tại, nó có thể giết chết hàng trăm, hàng nghìn DN Việt Nam, làm héo mòn sức sáng tạo và năng lực cạnh tranh. Điều này không chỉ gây hệ lụy lớn cho môi trường kinh doanh Việt Nam, làm cản trở quá trình đưa Việt Nam vươn lên tốp đầu các nước ASEAN, mà còn làm chậm quá trình phát triển của cả nền kinh tế, khi mỗi DN là một hạt nhân.  


 

Ý kiến bạn đọc ()