Diễn đàn
17/12/2017 08:56 PM +07:00
30/11/2017 07:55 AM +07:00

Sản phẩm điện tử “Made in Vietnam”: Có nên tiếp tục “mơ”?

Như Thời báo Kinh Doanh đã đăng ở bài trước, một trong những mục tiêu thu hút các tập đoàn điện tử nước ngoài là phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước. Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp (DN) nội địa có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của khối ngoại, trong khi sản phẩm điện tử của DN Việt đang mất dần thương hiệu.

 

Với thị trường hơn 90 triệu dân, nhận định về bán lẻ hàng điện tử điện lạnh, nhiều nhà đầu tư ngoại cho biết, thị trường Việt Nam đang là một miếng bánh lớn chưa được khai thác. Từ nay cho đến năm 2020, mức tiêu thụ sản phẩm điện tử, điện lạnh của Việt Nam sẽ tăng từ 7,3% lên 11,9%.

Ngoại tấn công, nội mất dần 

Việc được hưởng nguồn nhân công giá rẻ đi kèm nhiều ưu đãi, vốn FDI đầu tư vào ngành điện tử Việt Nam ngày càng lớn. Theo ông Cao Bảo Anh, đại diện Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp điện tử. Đến nay, lĩnh vực này đã thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI với các tên tuổi lớn như Samsung, Foxconn, LG, Panasonic, Intel… 

Trong đó, dự án lớn nhất thuộc Tập đoàn Samsung với tổng vốn đầu tư tại Việt Nam tính đến nay là 11,2 tỷ USD, sản phẩm chủ yếu là điện thoại di động và các sản phẩm công nghệ cao. Ngoài ra, hàng loạt dự án lớn như Intel (trên 1 tỷ USD); LG (1,5 tỷ USD), Canon (306 triệu USD); Panasonic (250 triệu USD)…

Đáng nói, kể từ năm 2008, khi một số cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các Hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực, bảo hộ sản xuất nội địa bị xoá bỏ hoàn toàn, các hãng sản xuất thiết bị điện tử đã chấm dứt liên doanh sản xuất, lắp ráp điện tử tại Việt Nam, chuyển sang lập công ty 100% vốn FDI như Sony, JVC, Toshiba, Panasonics…

Bà Đỗ Thị Thuý Hương, Uỷ viên Ban chấp hành, Hiệp hội DN Điện tử Việt Nam, cho biết, khi đó, các công ty điện tử nội địa có liên danh với DN FDI đã rơi vào khó khăn vì không chuẩn bị tốt điều này. Hầu hết những công ty này chuyển sang nhập linh kiện từ Trung Quốc để lắp ráp các mặt hàng điện tử dân dụng nhằm vào thị trường nông thôn và miền núi.

Hiện nay, các DN điện tử Việt Nam chủ yếu gia công, lắp ráp sản phẩm dân dụng, chủ yếu như ti vi, đầu karaoke, tủ lạnh… với hình thức nhập kinh kiện, lắp ráp và cung ứng cho thị trường nội địa.

Chưa kể nhiều DN lớn trong lĩnh vực điện tử của Việt Nam như Tổng công ty CP Điện tử và Tin học Việt Nam (với các công ty như Viettronics Tân Bình, Vietronics Thủ Đức, Viettronics Biên Hoà); công ty Hanel (Hà Nội)… phát triển chậm, thương hiệu mất dần và chỉ chiếm thị phần nhỏ trong nước. 

Không chỉ các công ty điện tử đầu tư vào Việt Nam, hiện hàng điện tử ngoại đã và đang theo chân chuỗi phân phối với tỷ lệ cổ phần nằm trong tay công ty, tập đoàn nước ngoài như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… đổ bộ mạnh vào thị trường Việt Nam. 

Đồng thời, các công ty sản xuất chuỗi vật tư, linh kiện phụ trợ cũng đi theo các DN điện tử ngoại vào Việt Nam. Dẫn tới, việc tham gia của DN CNHT nội vào chuỗi cung ứng của khối ngoại rất ít. 

Vì thế, chủ lực XK điện tử vẫn là các DN ngoại, còn các DN nội chỉ đang dừng ở khâu lắp ráp, gia công. 95% kim ngạch XK điện tử đến từ khu vực DN FDI. Trong đó, tổng số điện thoại di động và linh kiện XK năm 2016 với trị giá hơn 34,3 tỷ USD, các DN FDI chiếm 99,8%, với giá trị 34,2%.

Bao giờ Việt Nam mới có nhiều sản phẩm điện tử mang thương hiệu Vietnam
 

Khối nội “từ bỏ giấc mơ”

Ông Nguyễn Đình Vinh, Tổng Giám đốc công ty Hanel, chia sẻ, ngày xưa DN này cũng có tham vọng thiết kế sản phẩm điện tử gia dụng như ti vi cho người Việt Nam. Song đến nay, dường như “giấc mơ” này đã không còn. 

Ông Vinh cho biết: Quá trình về mặt lý thuyết chúng tôi đã làm được nhưng để triển khai thì không làm được vì nhiều lý do. Để làm được sản phẩm từ A đến Z cần đồng bộ trong nhiều lĩnh vực từ cơ khí, mặt bằng cho tới tay nghề lao động… Do vậy, đến nay, chúng tôi cảm thấy không thể làm được sản phẩm điện tử made in Vietnam. Giờ chuyển sang làm phần chuyên sâu là cung cấp linh kiện trong chuỗi điện tử cho DN ngoại. 

Bà Hương nhìn nhận, các DN Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực điện tử đều là DN vừa và nhỏ nên khó có thể đầu tư vào dây chuyền sản xuất hiện đại. Nếu có đầu tư thì khó có hiệu quả cao nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc tiêu thụ sản phẩm cũng như hỗ trợ đầu tư công nghệ. 

Hơn nữa, so với các DN FDI, các DN Việt Nam hầu như không nhận được sự hỗ trợ nào từ phía Chính phủ như đất đai, thuế… Việc nhập khẩu các linh kiện cũng gặp nhiều khó khăn về thủ tục hành chính, nhất là nhập các linh kiện để sản xuất các thiết bị đặc chủng được miễn thuế nhập khẩu.

Theo bà Hương, hiện nay còn có sự bất bình đẳng trong công tác nhập khẩu công nghệ. “Chúng ta cho phép các tập đoàn điện tử như Samsung, LG, Intel… đầu tư vào Việt Nam và các nhà cung cấp, các công ty vệ tinh của các hãng cũng vào Việt Nam mang theo một lượng lớn thiết bị công nghệ cũ. Nhưng các DN trong nước lại không được khuyến khích nhập khẩu thiết bị công nghệ cũ, chi phí bỏ ra là quá lớn trong khi vốn, lãi vay, khả năng làm chủ thiết bị công nghệ hạn chế”. 

Ngoài ra, theo bà Hương, hiện nay có một số DN có đầu tư nghiên cứu về KHCN để sản xuất thiết bị điện tử, CNTT mạnh, có chiều sâu nhưng bị khó khăn do đầu ra, nhất là liên quan đến mua sắm của các công ty doanh nghiệp nhà nước và đơn vị Nhà nước, do hồ sơ mời thầu có một số yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm đã mặc nhiên loại bỏ các DN sản xuất trong nước. 

Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Anh nhìn nhận vấn đề lạc quan hơn, sự đổ bộ của các DN điện tử ngoại sẽ giúp DN Việt Nam có thêm cơ hội học tập các phương pháp quản lý, nắm bắt xu hướng thế giới, tạo ra sản phẩm có thể cạnh tranh. Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần có những chính sách hỗ trợ điện tử trong nước. 

Cụ thể, Chính phủ phải định hướng rõ ràng sản phẩm điện tử công nghiệp mang tính chiến lược dài hạn, trên cơ sở đó giúp DN Việt Nam, viện, trường tập trung kinh phí, chất xám từ các nguồn lực khác để phát triển sản phẩm có năng lực cạnh tranh tốt, phù hợp với xu thế phát triển điện tử trên thế giới. 

“Chúng ta không chỉ trở thành cơ sở sản xuất gia công mà cần có sản phẩm mang thương hiệu Việt, tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm để có tính chất cạnh tranh cao”, ông Anh đề xuất. 

Lê Thúy
 

Bà Đỗ Thị Thuý Hương - Uỷ viên Ban chấp hành Hiệp hội DN Điện tử Việt Nam

Để DN Việt Nam sản xuất sản phẩm điện tử made in Việt Nam là cả một quá trình phát triển, phải có từng nấc thang một, không nên đốt cháy giai đoạn. Mặt khác, trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay điều đó có còn cần thiết hay không. Thay vào đó, chúng ta nên xem xét tỷ trọng đóng góp DN nội địa trong giá trị sản xuất công nghiệp của ngành điện tử Việt Nam, cũng như đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp điện tử thế giới đang ở vị trí nào, giá trị bao nhiêu.

Ông Bùi Bài Cường - Vụ Công nghệ thông tin Bộ Thông tin và Truyền thông

Thời gian tới, cần huy động tối đa sự tham gia của Chính phủ – doanh nghiệp – nhà khoa học của Việt Nam và quốc tế vào toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện và phát triển sản phẩm ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Xây dựng cơ chế hỗ trợ DN công nghiệp điện tử, đặc biệt là các DN startup. Đồng thời, nghiên cứu, xây dựng các dự án cấp quốc gia phát triển các sản phẩm trọng điểm trong ngành công nghiệp này. 

Ông Nguyễn Đình Vinh - Tổng Giám đốc công ty Hanel

Chúng ta cần học các nước trên thế giới đầu tư một nhà máy thí nghiệm, kiểm tra độ tin cậy, độ bền của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Sau mỗi lần thử nghiệm sản phẩm, DN chấp nhận đóng phí và trích phần trăm lợi nhuận của sản phẩm sau khi bán ra thị trường. Có sản phẩm điện tử mang thương hiệu Việt, CNHT điện tử tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành điện tử Việt Nam mới phát triển xứng tầm, tỷ lệ giá trị gia tăng trong XK mới tăng lên. 

 

Ý kiến bạn đọc ()