Diễn đàn
22/08/2017 08:32 AM +07:00
14/08/2017 07:19 AM +07:00

Thêm “vòng kim cô” cho chăn nuôi?

Ngành chăn nuôi trong nước tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn và mức độ cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu ngày càng khốc liệt. Để ngành phát triển bền vững và có chất lượng cao, nhiều giải pháp đã được đưa ra, trong đó yêu cầu về chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, chủ động đảm bảo nguồn thức ăn chăn nuôi trong nước được đặt ra khá cấp thiết.

 

Báo cáo của Bộ NN&PTNT cho thấy, tổng đàn lợn năm 2016 đạt hơn 29,07 triệu con, tăng gần 1,33 triệu con so với năm 2015. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chỉ dành cho tiêu thụ nội địa nên vừa qua, ngành chăn nuôi lợn phải trải qua cuộc khủng hoảng thừa, giá bán lợn trong sáu tháng đầu năm giảm tới 62% so với mức bình quân năm 2016.

Giá thành chăn nuôi cao

Ts. Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, phân tích, về thực trạng ngành chăn nuôi hiện nay, khó khăn lớn nhất của ngành là thiếu sự phối hợp giữa người sản xuất và thị trường để tạo ra một chuỗi liên kết ổn định. Do đó, thu nhập, giá trị gia tăng chưa lớn, gây khó khăn cho người chăn nuôi, tạo ra tâm lý không muốn tái đàn, dẫn đến giá cả biến động mạnh.

Theo các chuyên gia trong ngành, chăn nuôi Việt Nam hiện đang tồn tại các điểm yếu cần khắc phục gồm: phát triển không bền vững về năng suất, giá cả, chất lượng một số giống vật nuôi thấp…

Điểm yếu nhất của ngành chăn nuôi nước ta là giá thành sản xuất cao do phần lớn sản phẩm chăn nuôi chính của Việt Nam đều có giá cao hơn các nước trong khu vực và trên thế giới như: giá 1kg sữa tươi ở Việt Nam là 12.000 đồng, gấp đôi New Zealand; giá thịt lợn hơi ở Việt Nam là 45.000 – 55.000 đồng/kg, gấp hơn hai lần giá thịt hơi tại Mỹ chỉ khoảng 25.000 – 30.0000 đồng/kg.

Trong khi đó, nước ta hiện nay đang phải nhập khẩu khoảng 2,5% sản lượng thịt, tự cung 97,5%. Trong đó, nhập khẩu chủ yếu là hai nhóm sản phẩm: phụ phẩm của gà (chân, cánh, đùi) vì giá rẻ hơn so với trong nước, chỉ 0,85 USD/kg, và thịt bò do sản lượng trong nước chưa đáp ứng đủ yêu cầu.

Những năm gần đây, Việt Nam liên tục nhập khẩu thịt bò từ các nước, chủ yếu là Australia, với giá thịt bò hơi nhập khẩu chỉ 2,4 – 3 USD/kg, trong khi giá thành trong nước là 65.000 – 75.000 đồng/kg. Là một doanh nghiệp (DN) chế biến sản phẩm chăn nuôi, ông Kiều Minh Lực, Phó Tổng Giám đốc công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam, chia sẻ, ngành chăn nuôi đang tồn tại một tỷ lệ khá lớn nông hộ chăn nuôi thời vụ theo thị trường và một phần rất nhỏ nông hộ chăn nuôi “bỏ ống” tự cung tự cấp.

Trong khi đó, giá thành chăn nuôi của Việt Nam cao hơn một số nước, nhất là những nước có nền nông nghiệp sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi phát triển như Mỹ và khu vực Nam Mỹ.

Việt Nam có nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi nước ngoài

Đồng thời, ngành chăn nuôi hiện nay đang phụ thuộc khá nhiều vào các vật tư đầu vào như con giống, thức ăn, thuốc thú y nên chi phí đầu tư cho sản xuất thường cao. Ước tính mỗi năm chúng ta phải nhập trên 8 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, trị giá khoảng 3 tỷ USD. So với các nước trong khu vực, giá thành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôn cao hơn khoảng 10 – 15%.

Tuy nhiên, nói tới khó khăn của ngành này, không thể không nói tới một bất cập lớn là thị trường. Để tiếp cận thị trường, người chăn nuôi vẫn phải qua khâu trung gian. Do đó, giá trị gia tăng chưa lớn và hay bị thua lỗ.

Gỡ “nút thắt” thị trường

Theo ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, một trong những vấn đề lớn của chăn nuôi hiện nay là khâu thị trường. Mặc dù lực lượng thương lái hiện nay đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi nhưng việc tổ chức các chuỗi sản xuất tiêu thụ còn hạn chế, các chuỗi quy mô vẫn rất nhỏ, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất và thị trường.

Vì vậy, theo ông Sơn, cần rà soát, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn với nghiên cứu thị trường, đảm bảo tính khả thi và tuân thủ quy hoạch, từng bước hạn chế việc sản xuất theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng được mùa rớt giá.

Đã đến lúc cần rà soát một cách tổng thể quy hoạch phát triển chăn nuôi. Để ngành chăn nuôi phát triển ổn định, có chiều sâu, cũng cần rà soát và quy hoạch lại đất đai, quy định rõ vùng khuyến khích chăn nuôi, vùng hạn chế chăn nuôi và vùng cấm chăn nuôi hoàn toàn.

“Để khuyến khích người dân tham gia cung ứng các sản phẩm thịt sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm, cần sớm xây dựng chuỗi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thịt từ giống, chăn nuôi, giết mổ, tiêu thụ. Lấy DN, HTX, chủ trang trại làm động lực, nhằm kiểm soát tốt chất lượng an toàn thực phẩm và điều tiết cung cầu thị trường các sản phẩm chăn nuôi”, ông Sơn nói.

Đặc biệt trước bối cảnh thế giới hội nhập và tự do thương mại là không thể ngăn cản, ông Lực kiến nghị chăn nuôi Việt Nam đang có giá thành cao hơn một số nước nên khả năng xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam khó khăn hơn. “Chúng ta không thể khuyến cáo người tiêu dùng chỉ dùng thịt nóng để bảo vệ sản xuất trong nước lâu dài”, ông Lực nói.

Theo ông Lực, cần thiết phải nghiên cứu kỹ lưỡng về giải pháp kỹ thuật trong hạn chế nhập khẩu thịt đông lạnh, bao gồm các yếu tố như nhãn mác, xuất xứ hàng hóa, ngày giết mổ, thời gian cấp đông cũng như chỉ tiêu sinh hóa khác đối với sản phẩm thịt. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể đưa ra tiêu chuẩn về thời gian bảo quản đông lạnh tối đa đối với sản phẩm thịt tươi.

Đồng thời, cần định vị thị trường cho hai loại sản phẩm chăn nuôi chính để cung cấp là sản phẩm phổ thông và sản phẩm đặc sản. Theo kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, sản phẩm đặc sản chỉ chiếm 1 – 2% và được sản xuất từ các giống vật nuôi bản địa.

Tuy nhiên, chăn nuôi Việt Nam hiện tại ước tính có 60 – 65% sản phẩm được sản xuất ra từ mô hình trang trại chăn nuôi công nghiệp. Như vậy, Việt Nam cần dịch chuyển khoảng 30% sản xuất nông hộ nhỏ sang chăn nuôi công nghiệp và chỉ cần duy trì một tỷ lệ nhỏ sản xuất nông hộ quy mô nhỏ để chăn nuôi đặc sản.

Bên cạnh đó, hiện nay giết mổ công nghiệp, bán công nghiệp, chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng lượng thịt, còn chủ yếu là giết mổ thủ công, thiếu điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, điều này cũng góp phần làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm.

Công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch trong lĩnh vực chăn nuôi còn yếu kém cho nên thời gian tới, cần thu hút DN xây dựng các nhà máy chế biến những sản phẩm thịt, trứng, sữa quy mô lớn.

Ngoài ra, ngành chăn nuôi cũng cần tập trung xử lý các vướng mắc trong việc xử lý ô nhiễm và dịch bệnh. Một số loại dịch bệnh như lở mồm long móng, cúm gia cầm vẫn hoành hành, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi. Các chuyên gia cảnh báo, các biện pháp vệ sinh, dịch tễ không hiệu quả sẽ khiến Việt Nam có nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi nước ngoài.

Lê Thúy

Ts. Nguyễn Thanh Sơn - Viện trưởng Viện Chăn nuôi

Đã đến lúc cần phải luật hóa ngành chăn nuôi nước ta. Theo đó, cần xây dựng và thực thi Luật Chăn nuôi thay cho các văn bản hiện hành dưới luật như Pháp lệnh giống vật nuôi, Nghị định quản lý thức ăn chăn nuôi. Thời gian qua, quy định thể chế về giống và thức ăn có nhiều bất cập. Trong lĩnh vực chăn nuôi, chỉ dừng lại ở một số quy định pháp lý riêng rẽ trong khuôn khổ của một pháp lệnh hoặc nghị định về quản lý chăn nuôi là chưa thể đáp ứng được yêu cầu.

Ông Kiều Minh Lực - Phó Tổng Giám đốc công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam

Chiến lược an ninh thực phẩm và phát triển hệ thống điều tiết thị trường sản phẩm chăn nuôi bằng hệ thống nhà máy giết mổ, cấp đông thịt tươi và chế biến là cần thiết. Người chăn nuôi là cổ đông của nhà máy giết mổ – cấp đông và góp vốn theo sản lượng chăn nuôi của trang trại. Việc dự báo sản lượng chăn nuôi thông qua nhà máy giết mổ sẽ thuận lợi và chính xác hơn là theo báo cáo thống kê đầu con của địa phương.

Ông Hoàng Thanh Vân - Cục trưởng Cục Chăn nuôi

Thời gian tới, Cục Chăn nuôi sẽ có tổng hợp lại ba khu vực chăn nuôi gồm khu vực của các DN có vốn FDI, khu vực trang trại và khu vực nông hộ để có những đánh giá, nhận định chính thức về tình hình và có các dự báo dài hạn nhằm khuyến cáo cho UBND và Sở NN&PTNT các tỉnh. Trên cơ sở đó, có chỉ đạo rà soát lại vùng sản xuất và khuyến cáo cho từng vùng sản xuất cụ thể.

 

Ý kiến bạn đọc ()