Diễn đàn
21/11/2017 12:57 PM +07:00
06/11/2017 07:56 AM +07:00

Tương lai nào cho dệt may Việt?

Kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn chỉ gia công, trắng thương hiệu. Đồng thời, sản xuất dệt may phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu nước ngoài, đối diện áp lực cạnh tranh gia tăng ngay cả trên những thị trường nhỏ và trong nước.

 

Nói về tương lai của ngành dệt may, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, đặt vấn đề, trên con đường tơ lụa thế kỷ 21, Việt Nam ở đâu. Chúng ta có làm chủ được không hay chỉ là một phần trong đó. Làm chủ để cưỡi con lạc đà hay chỉ là người dắt lạc đà.

Bán 1 USD, lãi 10 cent

Theo các chuyên gia, với điều kiện các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đang mở ra, việc vượt mốc 30 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu (XK) của ngành dệt may là hoàn toàn có thể đạt được và nếu biết tái cơ cấu một cách hợp lý, mức 40-50 tỷ USD không phải ngoài tầm tay. 

Tuy nhiên, công bằng mà nói, ngành dệt may đang đối mặt với hàng loạt thách thức chủ quan và khách quan, trước mắt và lâu dài… đang cản trở mục tiêu mở rộng sản xuất, đẩy mạnh hơn nữa XK và quan trọng hơn để hàng dệt may Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu.

Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may thuê đan Tp.HCM, chia sẻ ngành dệt may đã xuất khẩu được 31 tỷ USD mỗi năm, tuy nhiên ước tính, DN Việt chỉ thu về khoảng 10 tỷ USD, vì chúng ta chỉ gia công và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu.

Ông Hồng tính toán, DN gia công một sản phẩm dệt may bán được 1 USD, giỏi lắm chỉ thu về 10 cent (tức 10% lợi nhuận). Tuy nhiên, cũng với sản phẩm này, nếu DN dệt may sản xuất theo phương thức FOB (mua nguyên liệu về sản xuất rồi bán thành phẩm thay vì làm hàng gia công), DN có thể lãi 50 cent (50% lợi nhuận). 

Ông Hồng kể: “Các DN dệt may chúng tôi thường nói vui với nhau, nếu DN dệt may làm gia công không mà có lãi thì phải tuyên dương anh hùng”.

PGs.Ts. Phạm Tất Thắng, Nghiên cứu viên cao cấp Bộ Công Thương, đánh giá theo thoả thuận FTA, việc xác định nguồn gốc xuất xứ hàng dệt may để được hưởng ưu đãi được tính từ sợi hoặc vải. Chính vì vậy, nhiều nước đã dành một nguồn kinh phí đáng kể đầu tư vào các khâu trước may.

Thí dụ như Bangladesh trước đây chỉ có may, nay đã đầu tư mạnh vào dệt và nhuộm, Pakistan trước đây chỉ trồng bông, sản xuất sợi, nay đã đầu tư cho sản xuất vải và nhuộm.

“Chính cách làm như vậy đã tạo ra một chuỗi sản xuất – cung ứng và giúp cho năng lực cạnh tranh hàng dệt may của những nước này tăng lên đáng kể. Về khâu này, chúng ta còn chậm hơn”, ông Thắng đánh giá.

Do vậy, sản xuất hàng dệt may Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài, 80% nguyên liệu đầu vào phải nhập ngoại. Trong năm 2015, toàn ngành XK được 27,7 tỷ USD, phải nhập tới hơn 24 tỷ USD nguyên liệu và các yếu tố đầu vào. Như vậy, chỉ còn chưa đầy 3,5 tỷ USD chia cho 6.000 DN với 450 ngàn lao động.

“Nhìn vào cơ cấu sản xuất và toàn bộ chuỗi giá trị của Việt Nam thấy mạnh nhất ở khâu may, yếu nhất ở khâu sợi, dệt, nhuộm. Trong chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu, Việt Nam mới chỉ tham gia nhiều vào khâu gia công – khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong toàn bộ chuỗi”, ông Thắng nhận xét. 

Đánh giá cụ thể năng lực dệt may của Việt Nam hiện nay, ông Trần Thanh Hải cho biết vừa rồi, ông cùng đoàn khảo sát có thăm quan hai DN dệt may trong nước và nước ngoài, nhận thấy, cả hai DN này đều có quá trình may, cắt, đóng gói, in giống nhau. 

“Nhưng khi vào giữa hai nhà máy, chúng tôi thấy sự khác biệt lớn nhất là trình độ quản lý. DN FDI vận hành một quy trình quản lý sản xuất chuyên nghiệp để XK, trình độ của họ hơn hẳn DN Việt Nam”.

Ông Hải cho biết thêm, thời gian vừa qua, Việt Nam cũng rất chú trọng đầu tư các nhà máy sợi, song đến nay, các nhà máy này vẫn chưa đạt hiệu quả. “Cũng phải nói thêm, nhà máy sợi gặp nhiều vấn đề, đòi hỏi công nghệ thực sự. Chúng ta cũng có khả năng đầu tư, nhưng công nghệ không làm chủ được”. 

DN gia công một sản phẩm dệt may bán được 1 USD, chỉ thu về 10 cent lãi

Đuối sức so với đối thủ 

Ngành dệt may muốn tăng giá trị gia tăng phải tự thiết kế, chủ động nguyên liệu. Nhà nước cần đầu tư phát triển nguyên phụ liệu. Không phát triển được vùng nguyên liệu, yếu kém thiết kế thời trang, ngành dệt may Việt Nam sẽ không có cửa cạnh tranh với thế giới. 

Thực tế hiện nay, thị trường dệt may của Việt Nam đang có nhiều biến động khó lường. Đặc biệt trường phái bảo hộ mậu dịch, đi ngược lại với xu thế tự do hoá thương mại WTO đang trỗi dậy. Điển hình là Mỹ rút khỏi Hiệp định TPP và Anh ra khỏi Liên minh châu Âu (Brexit). Hoa Kỳ và Anh đều là thị trường nhập khẩu lớn của dệt may Việt Nam. 

Việt Nam được nâng hạng từ nước kém phát triển lên mức nước có nền kinh tế đang phát triển là một điều đáng mừng cho nền kinh tế nói chung nhưng mang về cho ngành dệt may nhiều khó khăn, thiệt thòi.

Theo ông Phạm Tất Thắng, việc vay vốn không còn được hưởng tỷ lệ ưu đãi cũng như thuế xuất hàng hoá bằng 0% trong chương GSP dành cho các nước kém phát triển, đổi lại thuế XK hàng dệt may phải chịu ở mức trung bình 9,6% khi đưa vào thị trường Mỹ và châu Âu, trong khi đó, đối thủ cạnh tranh của Việt Nam lại được hưởng thuế suất ưu đãi 0%.

Chính vì vậy, gần đây, nhiều khách hàng, đơn hàng truyền thống của Việt Nam đã bị chuyển qua Myanmar, Lào, Campuchia để được hưởng thuế xuất 0% khi XK vào thị trường Mỹ, EU.

Nhiều chuyên gia cho rằng sản phẩm dệt may Việt Nam phải gánh chịu những chi phí vận chuyển, chi phí làm thủ tục hành chính, chi phí hải quan, chi phí không tên… cao hơn rất nhiều so với đối thủ cạnh tranh. Đây cũng là nguyên nhân cản trở sự tăng trưởng XK hàng dệt may Việt Nam.

Vì vậy, theo ông Thắng, để có thể hội nhập quốc tế, nâng cao giá trị gia tăng trong từng sản phẩm, từng lô hàng của dệt may XK, Việt Nam có lẽ cần phải thực hiện ngay những giải pháp “đi bằng hai chân”. 

Cụ thể, cùng với việc duy trì tìm kiếm các đơn hàng gia công theo kiểu truyền thống cần sớm chuyển sang hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm theo những mức độ khác nhau: FOB (tự chủ nguyên liệu), ODM (tự thiết kế – tự sản xuất), OBM (đảm đương tất cả các khâu từ sản xuất đến phân phối tiêu thụ sản phẩm”.

“Chỉ có như thế, Việt Nam mới hy vọng tham gia vào được những khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong toàn bộ chuỗi như: thiết kế, xúc tiến thương mại và tiêu thụ sản phẩm”, ông Thắng nói. 

Đồng thời, bên cạnh việc duy trì và phát triển XK vào các thị trường chính như Hoa Kỳ, EU (trong đó 5 thị trường lớn nhất là Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha), Nhật Bản, Hàn Quốc… cần đặc biệt lưu ý phát triển các thị trường khác như ASEAN, Liên minh Á – Âu, Ấn Độ, các nước châu Mỹ – Latinh… 

Ở đây cần phải đặc biệt coi trọng tạo dựng mối liên kết với các DN, hệ thống phân phối trên thị trường sở tại.
 

Lê Thúy 
 

Ông Phạm Xuân Hồng - Chủ tịch Hội Dệt may thuê đan Tp.HCM

Thực sự ngành dệt may đang đứng trước những bước ngoặt vô cùng to lớn, chưa bao giờ vị thế, kết nối của dệt may trên toàn cầu mạnh như hiện nay. Trong chuỗi giá trị, chịu khó thì thắng. Ngoài lắp ráp, giờ Việt Nam cần sản xuất công nghiệp hỗ trợ như kim khâu, vải, sợi. Việt Nam có thể đạt được hai khâu rất tốt là thiết kế và thời trang. Đây là cái mà chúng ta có thể làm.

Ông Võ Trí Thành - Chuyên gia Kinh tế

Hiện nay, thách thức lớn nhất của ngành dệt may là phải cạnh tranh với thị trường xung quanh khu vực như Myanmar, Trung Quốc, Indonesia, Campuchia. Để vượt qua, cần tính toán chủ động nguyên liệu, thiết kế… với những giải pháp và bước đi cụ thể trong tình hình mà chúng ta phải đối diện.

PGs.Ts. Phạm Tất Thắng - Nghiên cứu viên cao cấp Bộ Công Thương

Cùng với việc phát triển thị trường XK, cần phải bám chắc và sâu hơn nữa vào thị trường nội địa hơn 90 triệu dân. Khi đó, ngành dệt may phải sản xuất ra được hàng dệt may cho mọi lứa tuổi, mọi giới tính của người Việt Nam chứ không chỉ đem bán những mặt hàng không XK được như lâu nay. Tham gia vào toàn bộ quy trình từ thiết kế, sản xuất, xúc tiến thương mại và phân phối dịch vụ trong chuỗi giá trị.

 

Ý kiến bạn đọc ()