Diễn đàn
25/03/2017 02:52 AM +07:00
21/03/2017 07:01 AM +07:00

Xuất khẩu gạo: Đã đến lúc phải đổi lượng thành chất

Trước thực trạng xuất khẩu gạo Việt vẫn tồn tại cơ chế “xin – cho” gây cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo, giới chuyên gia nhận định đã tới lúc mô hình sản xuất của ngành này phải chuyển từ “sản lượng cao, chất lượng thấp, giá thấp” sang “năng suất cao, chất lượng cao, giá trị cao”.

Đứng trước bài toán về tình trạng sản xuất gạo Việt luôn đạt sản lượng cao nhưng có giá trị thấp do chất lượng thấp, các chuyên gia cho rằng ngành lúa gạo cần phải có một cuộc “đại phẫu” và nên bắt đầu từ thể chế.

Chỉ có thể chế mới quyết định khả năng chuyển đổi ngành hàng lúa gạo Việt Nam từ một ngành sản xuất năng suất thấp, cạnh tranh bằng số lượng sang một ngành kinh doanh, năng suất cao, cạnh tranh bằng chất lượng và thu nhập cao hơn cho nông dân.

Nắm thế độc quyền

Phân tích tổng quan ngành lúa gạo của Việt Nam hiện nay, Ts. Đặng Quang Vinh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cho biết ngành lúa gạo vẫn diễn ra trên quy mô sản xuất nhỏ, trung bình 0,44ha/hộ, nhiều mảnh nhỏ.

Khi rà soát thể chế về xuất khẩu gạo, ông Vinh nhận thấy rằng xuất khẩu gạo đang là sân chơi bất bình đẳng với rào cản gia nhập thị trường thể hiện rõ nhất ở Nghị định 109/2010/NĐ-CP. Ông Vinh dẫn chứng: Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đang nắm vị thế độc quyền trong xuất khẩu gạo, tạo rào cản cạnh tranh không lành mạnh giữa các DN xuất khẩu gạo.

Cụ thể, các DN xuất khẩu gạo sau khi ký hợp đồng xuất khẩu phải đăng ký với VFA trong vòng ba ngày làm việc. Đồng thời, theo Thông tư 44/2010/TT-BCT về kinh doanh xuất khẩu gạo: Đăng ký nghĩa là nộp bản sao hợp đồng trong đó có giá gạo xuất khẩu và báo cáo về lượng thóc, gạo có sẵn của DN; VFA có quyền yêu cầu Sở Công Thương tỉnh xác minh lượng thóc, gạo đã báo cáo, thương nhân xuất khẩu gạo phải báo cáo tiến độ thực hiện hợp đồng với VFA.

Trong khi đó, về hợp đồng tập trung: Bộ Công Thương giao cho VINAFOOD 1 và VINAFOOD 2 làm đầu mối giao dịch theo Thông tư 44/2010/TT-BCT. Tuy nhiên, giá thường thấp và điều kiện giao hàng không thuận lợi trong khi họ được phí ủy thác (tự xuất khẩu 20%, ủy thác 80%) với điều kiện DN không được xuất khẩu gạo với giá thấp hơn giá sàn. Nhiều DN được ủy thác đã từ chối thực hiện, dù bị trừ điểm khi giao chỉ tiêu năm sau.

Về việc DN không được xuất khẩu gạo với giá thấp hơn giá sàn, ông Vinh đặt câu hỏi: “Khi giá thế giới giảm thì sao, có ứ đọng gạo không?” Trên thực tế, VFA đã phải cho các DN xuất khẩu dưới giá sàn tại một số thời điểm.

Như vậy, các điều kiện của Nghị định 109 đã trao quá nhiều quyền cho VFA, VINAFOOD 1 và VINAFOOD 2, có thể gây ra hệ quả cạnh tranh không lành mạnh, dẫn tới cơ chế ‘xin – cho’ tiêu cực, tạo ra động cơ ‘ngồi mát ăn bát vàng’, tiếp tục duy trì mô hình ‘sản lượng cao, chất lượng thấp, giá thấp’.

Theo ông Vinh, cần bỏ các điều kiện xuất khẩu hiện nay được quy định trong Nghị định 109/2010/NĐ-CP, tạo điều kiện cho xuất khẩu gạo chất lượng cao, giá trị gia tăng cao với khối lượng nhỏ.

Ông Vinh kiến nghị cần tổ chức lại VFA như một hiệp hội ngành hàng bình thường, có sự tham gia của các thành phần trong chuỗi giá trị lúa gạo, nhất là người sản xuất trực tiếp, các thành viên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau.

Đồng tình với quan điểm này, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận xét đây là chính sách tồi nhất về xuất khẩu, khi tăng quyền cho cơ quan quản lý và DN Nhà nước để tăng sự chèn ép đối với DN tư nhân, DN nhỏ và vừa và nông dân, tự tạo thêm trở ngại cho xuất khẩu lúa gạo của nước ta trong bối cảnh cạnh tranh tăng lên trên thị trường quốc tế.

Bà Lan khẳng định, VFA là điển hình của lợi ích nhóm, của sự câu kết quyền lực giữa cơ quan Nhà nước với DN lớn, DN Nhà nước nhân danh hiệp hội. Thủ tướng đã kết luận rõ ràng về yêu cầu sửa đổi Nghị định 109 và các điều kiện tham gia xuất khẩu gạo, cũng như xem lại và xóa bỏ những quyền không hợp lý của VFA, qua cuộc họp về tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo ngày 15/3 vừa qua. Do vậy, Bộ Công Thương cần triển khai thực hiện ngay và triệt để những chỉ đạo này.

Ngoài ra, chính sách thương mại hiện nay đang không khuyến khích việc chế biến gạo và chế biến, sử dụng các phụ phẩm từ lúa gạo để tạo thêm giá trị gia tăng và tăng thu nhập cho nông dân. Các sản phẩm từ gạo của Việt Nam khá nghèo nàn và chủ yếu cho tiêu dùng nội địa (bún, phở, bánh tráng); các phụ phẩm khác ít được quan tâm tận dụng (cám, trấu, rơm rạ…).

“Cởi trói” cho ngành lúa gạo bắt đầu từ những ràng buộc, quy định không hợp lý

Bỏ “bao cấp” gạo cho nước khác

Sau biến động của giá gạo thế giới năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 63/2009/NQ-CP về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Nghị quyết này yêu cầu giữ 3,8 triệu ha trồng lúa, trong đó 3,2 triệu ha trồng lúa hai vụ trở lên.

Tuy nhiên, ông Vinh cho rằng chính sách về đất trồng lúa và duy trì sản lượng cao để đảm bảo an ninh lương thực đã gây ra nhiều hệ lụy và không còn phù hợp.

Theo ông Vinh, Việt Nam không cần duy trì 3,8 triệu ha để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia vì hàng năm, Việt Nam xuất khẩu 5 – 7 triệu tấn gạo với giá bán thấp hơn giá bán lẻ trong nước.

Như vậy, Việt Nam đang “bao cấp” gạo cho nhiều nước khác. “Cần phải bỏ mục tiêu duy trì sản lượng 39 – 40 triệu tấn thóc, xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Thay vào đó, Nhà nước cần khuyến khích liên kết DN và nông dân hình thành cánh đồng lớn và sản xuất theo hợp đồng”, ông Vinh nêu quan điểm.

Về vấn đề này, bà Phạm Chi Lan chia sẻ, ngành lúa gạo Việt Nam bị ám ảnh quá lâu về an ninh lương thực. Đây là nỗi ám ảnh từ khi thiếu đói cho đến khi xuất khẩu nhiều gạo, nhưng giờ đây, nhu cầu an ninh lương thực có thể giải thoát được, cho nên cần phải xóa bỏ nỗi ám ảnh về an ninh lương thực bấy lâu nay.

Theo chuyên gia Chi Lan, phát triển nông nghiệp, đặc biệt ngành lúa gạo Việt Nam đã đến điểm nghẽn, phải thay đổi căn bản do nhiều sức ép. Nhưng hiện nay, thách thức thứ nhất của ngành lúa gạo là về quy mô. Quy mô sản xuất lúa gạo nói riêng và nông nghiệp nói chung ở Việt Nam không những rất nhỏ, mà còn rất phân tán, nên hiệu quả càng hạn chế.

Con số mới nhất Thủ tướng nói ở hội nghị lúa gạo tại An Giang ngày 15/3 là có 14 triệu hộ nông dân canh tác trên 7,8 triệu mảnh đất. Trên thực tế, tăng trưởng sản lượng lúa tập trung cao tại gần 20 huyện vựa lúa ở đồng bằng sông Mekong và hầu hết lúa xuất khẩu được sản xuất bởi khoảng 300.000 trên tổng số 9 triệu hộ sản xuất lúa.

Ngoài ra, còn những hạn chế như giống lúa nhập khẩu nhiều từ nước ngoài, đặc biệt từ Trung Quốc, có thể gây thêm rủi ro cho nông dân và cho Nhà nước (do không kiểm soát được). Hơn nữa, thị trường giống bị khống chế bởi một số nhà cung cấp, thương lái, trong khi các cơ quan Nhà nước ít chú trọng bảo vệ lợi ích cho nông dân, thậm chí có nơi còn thông đồng với người cung cấp để chèn ép nông dân.

Lê Thúy

Ông Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

Chúng ta làm nông nghiệp mà tư duy kéo nông dân ra khỏi nông nghiệp nông thôn theo cách làm ấy có lẽ làm khổ nông dân, không phải làm nông dân sung sướng. Vì vai trò của tổ chức nông dân, tổ chức nghề nghiệp trong chuỗi giá trị lúa gạo hết sức quan trọng. Đặc biệt, trong lĩnh vực tái cơ cấu ngành lúa gạo đã có lệnh của Thủ tướng thì phải làm mạnh hơn để có thể tiến dần lên, không làm là dỡ.

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - Viện trưởng Viện Chính sách và Phát triển Nông nghiệp nông thôn

Bối cảnh hiện nay buộc ngành lúa gạo phải thay đổi chuyển sang chế biến sâu. Nếu không chịu thay đổi, gạo Việt không chỉ gặp khó ở thị trường xuất khẩu mà còn gặp khó ngay thị trường trong nước. Nhu cầu tiêu dùng nội địa đang đòi hỏi cao hơn, nhiều người không mua loại gạo có giá dưới 10.000 đồng.

Bà Phạm Chi Lan - Chuyên gia Kinh tế

Gạo Việt cần hết sức coi trọng thị trường trong nước, vì thị trường trong nước đã và sẽ tiếp tục là thị trường tiêu thụ gạo chủ yếu. Tuy nhiên, thị trường trong nước cũng có những phân khúc khác nhau và cũng sẽ có những chuyển động liên tục về thị hiếu, nhu cầu, đòi hỏi của người tiêu dùng, trước hết về tính an toàn và dinh dưỡng của gạo.

 

 

Ý kiến bạn đọc ()