Lăng kính
21/11/2017 01:10 PM +07:00
30/10/2017 06:45 AM +07:00

Chuyện sống còn của xuất khẩu gạo

Cần những doanh nghiệp có tầm và thật tâm với lúa gạo Việt để nâng giá trị xuất khẩu gạo. Việc xây dựng giá trị của thương hiệu gạo Việt, xét ở góc độ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, Việt Nam đều thua. Chuyện sống còn cho đến lúc này vẫn là gạo Việt không có thương hiệu mạnh, là rào cản lớn nhất cho việc tái chiếm thị phần gạo toàn cầu.

 

Số lượng thống kê về tình hình xuất khẩu gạo năm 2017 quanh đi quẩn lại đến thời điểm hiện nay vẫn thấy “nét chủ đạo” là lượng tăng còn giá thì thụt lùi, chỉ xuất khẩu được ở những thị trường bình dân giá rẻ, trong khi theo định hướng là giảm sản lượng, nâng cao giá trị xuất khẩu. 

Bằng chứng là theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm 2017 ước đạt 5,05 triệu tấn và 2,25 tỷ USD, tăng 22,3% về khối lượng. 

Chờ thương hiệu mạnh

Giá trị được cho là có tăng 21,1% so với cùng kỳ năm 2016, nhưng thực tế giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng năm 2017 chỉ đạt 442,3 USD/tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc vẫn là “mối ruột” của gạo Việt cho đến nay (chiếm hơn 39% thị phần), các nước châu Á và châu Phi vẫn là thị trường xuất khẩu chính.
Trao đổi với các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo và nông sản vào cuối tuần qua nhân Diễn đàn kinh tế về

Đồng bằng sông Cửu Long ở Bến Tre, chuyên gia lúa gạo hàng đầu Việt Nam – Gs.Ts Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ, có lưu ý là thị trường gạo thế giới ngày càng cạnh tranh. Một công ty, một tỉnh, một quốc gia cần tìm cách làm cho gạo của mình nổi bật lên để cạnh tranh ngõ hầu đạt được mục tiêu kinh doanh.

Ông Võ Tòng Xuân cho rằng trừ một số ít đang chuyển hướng cải tiến, phần lớn xuất khẩu nông sản chất lượng thấp vào thị trường giá trị thấp, nhất là mặt hàng gạo Việt Nam. Có nhiều DN đầu tư cho logo của mình nhưng chưa đầu tư xây dựng thương hiệu của sản phẩm, nhất là mặt hàng gạo, đến nay vẫn chưa có thương hiệu mạnh.

“Thà trễ còn hơn không” – ông Xuân nhấn mạnh. Chính phủ quyết tâm xây dựng thương hiệu gạo quốc gia (Quyết định 706/QĐ-TTg ngày 21/5/2015), nhưng kế hoạch thực hiện vẫn còn chọn lựa giữa lai tạo giống mới (tốn nhiều năm nữa) hay bình chọn từ giống có sẵn (có thể thực hiện cấp tốc). 

Vị giáo sư này đề nghị nên tham khảo phương pháp rất hiệu quả do các chuyên gia quốc tế của IFC, ADF, ACIAR giúp xây dựng thương hiệu gạo Campuchia từ giống lúa cổ truyền của xứ này.

Có thể thấy, vấn đề khó khăn nhất của ngành gạo Việt Nam lâu nay chính là việc nước ta từ lâu chỉ chú trọng vào số lượng mà bỏ quên chất lượng. Cho nên, hiện tại gạo Việt Nam không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới khi người tiêu dùng toàn cầu ngày càng chú trọng vào chất lượng – mùi vị và dinh dưỡng. 

Ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc công ty CP Nông nghiệp công nghiệp công nghệ cao Trung An, cho biết có nhiều loại gạo đồng nhất, thơm, sạch của Việt Nam được nhiều nhà nhập khẩu đặt hàng. 

Nhiều loại gạo đang được các nhà nhập khẩu yêu cầu nhưng các thương nhân Việt Nam lại không có hàng để bán. Những bất cập không có hàng bán đều xuất phát từ việc xây dựng nguồn nguyên liệu lúa.

Mặt hàng gạo Việt xuất khẩu đến nay vẫn chưa có thương hiệu mạnh
 

Cần gạo chất lượng cao

Trên thực tế, hầu hết các công ty kinh doanh lương thực không tạo lập vùng nguyên liệu hoặc liên kết với nông dân. Nguyên liệu của họ thì qua thương lái là chính, khó truy nguyên nguồn gốc, không bảo đảm sạch vết thuốc bảo vệ thực vật và dư lượng phân đạm (N).

Gạo xuất sang thị trường Hoa Kỳ thường bị trả về vì vấn đề này. Một thống kê từng cho thấy, sau hàng loạt vụ lùm xùm do sử dụng quá dư lượng thuốc trừ sâu, từ tháng 1/2012 đến tháng 8/2016, có 412 container gạo (khoảng hơn 10.000 tấn gạo Việt) đã bị Hoa Kỳ từ chối nhập khẩu do USDA/FDA phát hiện dư lượng của 8 loại chất hoá học vượt quá mức cho phép của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.

Gs.Ts Võ Tòng Xuân cho biết những điều kiện đặc thù chung mà thị trường đòi hỏi là giống lạ (exotic) hoặc đặc sản, chất lượng: Vị ngon cơm, hoặc vừa ngon vừa thơm. Qui trình sản xuất thân thiện môi trường và an toàn thực phẩm (GAP, không chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc phân đạm). 

Một bộ phận khá giả trong số người tiêu dùng ưa chọn sản phẩm hữu cơ. Vì thế, mỗi công ty xuất khẩu gạo của Việt Nam có thể tự chọn một giống thích hợp nhất cho từng thị trường của mình. 

Cũng nên tham khảo các công ty kinh doanh gạo nổi tiếng của Italia, Pháp, Nhật, Thái Lan, Hoa Kỳ. Họ phần lớn dùng giống lúa phổ biến đạt chất lượng hợp khẩu vị người tiêu dùng, chứ không phải từ giống lúa riêng của công ty họ lai tạo.

Thí dụ: Giống Koshihikari làm nguyên liệu của nhiều thương hiệu gạo Nhật Bản. Giống Hom Mali (Khao Dawk Mali) trong nhiều thương hiệu gạo Thái Lan. Giống Arborio dung cho nhiều thương hiệu gạo Italia. Giống IR64 VN làm nguyên liệu thương hiệu gạo ARI của Mỹ.

Nên nhớ, cùng một giống lúa Koshihikari, hàng trăm công ty lương thực Nhật Bản sản xuất hàng trăm thương hiệu gạo khác nhau. Hoặc cùng một giống lúa Arborio, 5 công ty Italia sản xuất 5 thương hiệu gạo khác nhau. Hay 5 công ty Thái cùng sử dụng giống Hom Mali với 5 thương hiệu.

Cần nhắc lại, từ năm 1993-1994, công ty gạo của Hoa Kỳ là AMERICAN RICE INC. đã liên doanh với VinaFood Cần Thơ, dùng chỉ một giống lúa IR64 (gạo trắng trong, hạt dài) hợp đồng với nông dân Ô Môn và Thốt Nốt (Cần Thơ) sản xuất để chế biến xuất khẩu với thương hiệu nổi tiếng ARI đi Nam Mỹ và Trung Đông.

Hướng đi được các chuyên gia đề nghị cho gạo Việt Nam trong lúc này là cần xác định những DN có tầm và thật tâm với lúa gạo Việt Nam. Tuy nhiên, điều này không thể không có sự liên kết giữa Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, nông dân và DN. Và nhất là Chính phủ cần có chiến lược tạo ra các vùng gạo chất lượng cao.
 

Thế Vinh
 

Ý kiến bạn đọc ()