Lăng kính
11/12/2017 10:12 PM +07:00
12/06/2017 07:16 AM +07:00

Đằng sau chuyện “làm 1 đồng, xài 3 đồng"

Con số nợ xấu và chất lượng ngân hàng yếu kém ở Việt Nam là hai vấn đề có mối quan hệ hữu cơ với nhau, khiến cho nền kinh tế bị kéo lùi. Trong khi đó, việc chi thường xuyên tăng cao “làm 1 đồng nhưng xài 3 đồng” đang là ám ảnh lớn cho thâm hụt ngân sách trước bối cảnh còn nhiều vấn đề tồn tại trong quản lý nợ công, đầu tư công.

 

Câu nói mới đây của đại biểu quốc hội Đặng Thuần Phong (Bến Tre) khi Quốc hội thảo luận về kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước rất đáng để suy ngẫm: “Mỗi người dân Việt Nam gánh 1.000 USD tiền nợ và xu hướng sẽ còn tăng trong những năm tới. Chi thường xuyên hiện chiếm đến 70% ngân sách, mức bội chi gấp ba lần tăng trưởng. Như vậy, chúng ta làm 1 đồng nhưng xài đến 3 đồng”.

Ám ảnh nợ công

Nợ công là một bài toán kinh tế nhức nhối đến nay chưa có lời giải. Từ khoảng năm 2012 trở đi, như nhận định của giới chuyên gia, thu ngân sách của Việt Nam về cơ bản chỉ đủ cho chi thường xuyên và trả lãi. Đến bây giờ, thu ngân sách rất chật vật để trả chi thường xuyên và trả lãi. Điều đó có nghĩa, với mỗi đồng đầu tư là mỗi đồng đi vay, mỗi đồng đi vay là mỗi đồng tăng nợ.

Theo Ts. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Đại học Fulbright, thách thức lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang nằm ở vấn đề nợ xấu và khu vực các ngân hàng yếu kém.

Nhìn vào tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) bình quân, Việt Nam thuộc loại thấp gần nhất so với các nước trong khu vực. Điều đó có nghĩa con số nợ xấu và chất lượng ngân hàng yếu kém ở Việt Nam vẫn là hai vấn đề có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động xấu đến nền kinh tế.

Giá vốn tại Việt Nam cũng được cho là cao hơn các quốc gia khác trong khu vực dù vốn đó thuộc khối công hay khối tư. Rõ ràng, xét về mặt trung hạn, có hai thách thức vô cùng quan trọng hiện nay với nền kinh tế, chính là thâm hụt ngân sách và nợ công.

Vấn đề ở đây là thu ngân sách đã cao, song chi ngân sách còn cao hơn nhiều và thâm hụt ngân sách là cực cao (đơn cử như năm 2015 ước khoảng 6,4%, năm 2016 vào khoảng 5,8%, và những giai đoạn sau có thể duy trì khoảng trên 5%). Mục tiêu sắp tới của Chính phủ là giảm thâm hụt ngân sách nhưng đây rõ ràng là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn trong bối cảnh hiện nay.

Thực tế cho thấy, chi ngân sách vẫn duy trì ở mức cao dẫn đến bội chi ngân sách liên tục ở mức cao và đẩy nợ công tăng nhanh. Điều này đang làm khó cho kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tới do áp lực trả nợ lớn với nghĩa vụ trả nợ trực tiếp (bao gồm cả trả trong cân đối và đảo nợ) của Chính phủ đã tiệm cận ngưỡng an toàn.

So với nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ nợ công của Việt Nam thuộc nhóm tương đối cao. Nếu như năm 2005, tỷ lệ nợ công so với GDP của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực, đến năm 2011, tỷ lệ nợ công của Việt Nam đã cao hơn phần lớn những quốc gia này.

Các hệ số an toàn khác về nợ tuy còn trong giới hạn Quốc hội cho phép nhưng đã ở mức cao. Ngoài ra, yếu tố hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn vay cũng đang là một vấn đề đặt ra hiện nay.

 

Kiểm soát thâm hụt ngân sách

Trao đổi với Thời báo Kinh Doanh, Ts. Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia, cho rằng Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) chỉ sửa những phần cho phù hợp với Luật Ngân sách, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và đồng bộ hóa với một số luật đang có như Luật Quản lý đầu tư công. Còn về bản chất, không có gì thay đổi nhiều.

Theo Ts. Lịch, vấn đề cần phải bàn là quản lý tập trung từ lúc vay nợ công cho tới lúc trả nợ. Đồng thời, luật này sẽ phải phối hợp với Luật Đầu tư công trong vấn đề sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay theo trách nhiệm đi vay.

Tuy nhiên, Ts. Lịch cũng chia sẻ, thực ra nợ công kịch trần 65% GDP là cái trần do ta đặt ra. Cái trần nợ này không quan trọng, cái quan trọng nhất của nợ công là vỡ nợ hay không vỡ nợ, là tiền hàng năm phải trả nợ so với tổng thu ngân sách. Đó mới là quan trọng. Những quốc gia vỡ nợ không phải là đầu tư công so với GDP, có quốc gia nợ công khoảng 150 – 200% GDP nhưng không bao giờ vỡ nợ.

Còn theo Ts. Tự Anh, nếu nhìn vào cơ cấu kinh tế sẽ thấy rất lạ. Thời điểm năm 2007 – 2008, chi thường xuyên chỉ khoảng 50% tổng chi, trong khi đến bây giờ, chi thường xuyên đã tăng hơn 70%, thậm chí có năm theo dự toán lên đến 80% tổng chi.

Rõ ràng là phần chi tăng thêm rất cao chủ yếu rơi vào chi thường xuyên. Điều đó có nghĩa là nếu chúng ta không siết chặt kỷ luật bộ máy, không giảm được chi thường xuyên, vấn đề ngân sách sẽ vẫn như cũ, không thể nào thay đổi được, trong khi bộ máy đang phình ra mà chưa thu hẹp lại.

Cần lưu ý, nếu trước đây chi thường xuyên vào khoảng 50% ngân sách và chi đầu tư là khoảng 25 – 27%, thì bây giờ chi thường xuyên lên tới 70%, còn chi đầu tư khoảng 30%. Nghĩa là, tỷ lệ này đã tăng khá mạnh, chi thường xuyên quá nhiều và chi đầu tư quá ít. Đây không phải là công thức tốt cho một nền kinh tế.

Giới chuyên gia cảnh báo, trong trung hạn, nếu mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu sản xuất và xuất khẩu không thay đổi; khuôn khổ và điều hành chính sách tiền tệ cùng tỷ giá không có những cải thiện đáng kể để gia tăng hiệu lực chính sách và kiến tạo niềm tin nơi thị trường; kiểm soát thâm hụt ngân sách và nợ công không được siết chặt, những rủi ro vĩ mô có thể là điểm nghẽn quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.

Thế Vinh

 

Ý kiến bạn đọc ()