Lăng kính
25/02/2018 12:38 AM +07:00
07/02/2018 09:25 AM +07:00

Doanh nghiệp Nhật còn ngại gì khi đầu tư?

Khoảng 70% doanh nghiệp (DN) Nhật Bản đang muốn tiếp tục mở rộng kinh doanh tại Việt Nam, tín hiệu lạc quan cho môi trường đầu tư. Tuy nhiên, vẫn còn những rủi ro mà DN Nhật Bản cho biết phải đối mặt, từ khâu thủ tục, thuế, chi phí nhân công, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và tỷ lệ cung ứng nội địa còn thấp.

 

Sau 4 tháng hoạt động, nhìn lượng khách hàng tăng đều đặn theo mỗi tháng ở Trạm xăng dầu Idemitsu Q8 – trạm xăng đầu tiên của Nhật Bản trong khu công nghiệp Bắc Thăng Long (Hà Nội) từng “nổi tiếng” với hình ảnh ông tổng giám đốc công ty cúi chào khách, mới thấy rằng nhà đầu tư (NĐT) Nhật đã bắt đầu có hướng đi đúng khi đứng chân trên thị trường xăng dầu Việt Nam.

Tăng doanh thu, tăng đầu tư

Phía DN Nhật này quyết định sẽ mở một trạm xăng “chuẩn Nhật” thứ hai tại Hải Phòng sau Tết nguyên đán Mậu Tuất 2018. Họ khá lạc quan về môi trường kinh doanh ở Việt Nam, cũng như khoảng 70% DN Nhật Bản khác mà theo khảo sát mới công bố của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) là có phương châm mở rộng hoạt động trong tương lai tại Việt Nam. Đây là tỷ lệ cao so với các quốc gia khác, cho thấy Việt Nam là địa điểm đầu tư quan trọng. 

Có thể nói, trong mảng khai thác thị trường tại Việt Nam, các sản phẩm và dịch vụ của DN Nhật đang có ưu thế về chất lượng, dễ dàng được người tiêu dùng Việt chấp nhận. 

Đây là nhận định của ông Takimoto Koji, Trưởng đại diện Văn phòng Jetro tại Tp.HCM tại cuộc họp báo tổ chức ngày 6/2 nhằm thông báo kết quả khảo sát về tình hình hoạt động của DN Nhật Bản trong năm vừa qua.

Một trong những lý do chính để đa phần DN Nhật “mở rộng hoạt động” chính là doanh thu của họ tăng và tính tăng trưởng, tiềm năng cao tại thị trường Việt Nam (đặc biệt ở khối phi sản xuất).

Trả lời câu hỏi của Thời báo Kinh Doanh là liên quan việc mới đây, Mỹ, Trung Quốc giảm thuế thu nhập DN liệu có ảnh hưởng gì đến đầu tư của DN Nhật vào Việt Nam hay không, ông Takimoto Koji cho biết thông qua các điều tra khảo sát của Jetro, ít thấy các DN Nhật đầu tư vào Việt Nam nhằm mục đích là được hưởng lợi từ mức thuế thu nhập DN thấp, mà họ thường nhằm vào những lợi thế khác. 

Hồi năm 2017, tổng số vốn đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam đã vượt mức kỷ lục với trên 8,6 tỷ USD, số dự án đầu tư mới cũng ghi nhận tăng kỷ lục với 367 dự án. 

Tuy nhiên, phía Jetro thừa nhận sự gia tăng nguồn vốn đầu tư từ Nhật chủ yếu nhờ một số dự án lớn về cơ sở hạ tầng như hai nhà máy điện ở Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Vân Phong (Khánh Hòa) với tổng vốn đầu tư hơn 5,3 tỷ USD.

Nhiều nhà đầu tư Nhật phản ánh khó có thể được đảm bảo về nguồn nhân lực chất lượng cao
 

Những rào cản còn lại

Ngoài các dự án lớn nêu trên, các dự án đầu tư mới tiếp tục chủ yếu có “quy mô vừa và nhỏ”. Một điểm đáng lưu ý là nhìn từ số vốn cấp phép thì những lĩnh vực, ngành nghề chế tạo của NĐT Nhật đã suy giảm đến 20%. 

Nhưng bù lại, phần tăng lên từ vốn đầu tư Nhật lại nằm ở lĩnh vực bất động sản mà trường hợp đầu tư của tập đoàn bán lẻ Aeon ở Việt Nam là một điển hình.

Vì sao có sự sụt giảm đột biến từ khối chế tạo? Lý giải việc này, lãnh đạo Jetro tại Tp.HCM đưa ra ví dụ như sản xuất thiết bị y tế cần sự khéo léo, tỉ mỉ khi lắp ráp, người Việt Nam lại khéo tay nên những lĩnh vực như vậy thì đầu tư sẽ tăng. Nhưng ở một số lĩnh vực chế tạo khác lại giảm đi vì trong cơ cấu lao động Việt Nam đang có những không lợi thế cho DN Nhật.

Có nhiều NĐT Nhật đã phản ánh việc “đào tạo và đảm bảo nguồn nhân lực” là vấn đề đáng lưu tâm. Thực tế là họ khó có thể được đảm bảo về nguồn nhân lực chất lượng cao cho mình dù chi phí nhân công tăng cao đáng kể.

Theo ý kiến của các DN Nhật, chi phí nhân công tăng cao là một trong 5 hạng mục rủi ro hàng đầu trong đầu tư mà họ đối mặt. 

Ngoài ra, cơ chế, thủ tục thuế phức tạp tăng mạnh so với năm trước đó cũng khiến DN lo ngại. 

Qua khảo sát cho thấy hơn một nửa số DN Nhật cho rằng việc “tăng lương cho nhân viên sở tại”, “khó tìm nguồn cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện tại nước sở tại”, “khó quản lý chất lượng” vẫn là những vấn đề trong kinh doanh tại Việt Nam.

Chẳng hạn như tỷ lệ cung ứng nội địa ở Việt Nam cho NĐT Nhật vài năm gần đây vẫn ở ngưỡng 30%, không thay đổi đáng kể. Nếu so với tỷ lệ cung ứng của các quốc gia trong khu vực như Malaysia (38,2%), Indonesia (45,2%), Thái Lan (56,8%) hay Philippines (42,2%), tỷ lệ hiện tại của Việt Nam là mức khá thấp.

Theo giới chuyên gia, Việt Nam vẫn còn thiếu các nhà cung cấp tiềm năng có năng lực cạnh tranh và khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn về chất lượng, giá và độ tin cậy của các NĐT Nhật hay các tập đoàn xuyên quốc gia. Đây chính là một trong những trở ngại lớn về kết nối theo chiều ngược ở Việt Nam. 

Ngoài ra, một trở ngại khác là những quy định cứng nhắc trong chính sách cấp phép nhập khẩu máy móc cũ quá niên hạn 10 năm được cho là ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của DN Nhật. 

Phía Hiệp hội DN Nhật tại Việt Nam đã đưa ra ý kiến về vấn đề này lên phía Chính phủ nhằm nhập khẩu những trang thiết bị của chính mình đang sử dụng vốn có chất lượng rất tốt ở Nhật vào Việt Nam.

Thế Vinh
 

Ý kiến bạn đọc ()