Lăng kính
21/11/2017 01:09 PM +07:00
02/11/2017 08:24 AM +07:00

Dựng thương hiệu, bỏ xuất thô nông sản

Nếu khéo xây dựng thương hiệu và từ bỏ “lối mòn” gia công với xuất thô để tập trung đổi mới sản xuất, chế biến sâu hơn và sạch hơn nhằm nâng giá trị xuất khẩu nông sản thì việc chiếm thị phần lớn hơn, làm cơ sở cho quốc tế hoá, tăng mức lợi nhuận…chính là hướng đi cần thiết cho các doanh nghiệp (DN) Việt trong lúc này.

 

Có thể lấy trường hợp gạo hữu cơ “Hoa Sữa” nổi tiếng của công ty CP thương mại và sản xuất Viễn Phú với nguyên liệu tại vùng đất U Minh Hạ (Cà Mau) và chế biến ở nhà máy tại Long Xuyên (An Giang) là một minh chứng điển hình về hướng tiếp cận mới để quảng bá thương hiệu nông sản Việt. 

Đổi mới cách quảng bá

Thương hiệu gạo Việt này được nhập khẩu vào thị trường khó tính như Anh Quốc bởi công ty BHMT Ltd., Birmingham, UK và bán tại các siêu thị Anh Quốc và hệ thống Internet. 

Trong việc xúc tiến sản phẩm gạo “Hoa Sữa” qua Internet, họ không chỉ sử dụng facebook để giới thiệu như cách làm của nhiều DN hiện nay mà còn bán hàng trên các trang thương mại điện tử có tính toàn cầu như Amazon.com, Alibaba.com.

Một số DN Việt tuy “sinh sau đẻ muộn”, thuộc dạng mới khởi nghiệp trong lĩnh vực chế biến nông sản xuất khẩu, cũng nhanh chóng nắm bắt lợi thế từ các trang thương mại điện tử để quảng bá thương hiệu của họ. 

Đơn cử như công ty cổ phần khoa học công nghệ R2D tại Tp.HCM đang sở hữu sản phẩm “than gáo dừa không khói R2D” đã tiếp cận với Alibaba.com, Lazada…để vừa quảng bá thương hiệu vừa tìm kiếm đối tác nước ngoài.

Bà Lê Hiền, Giám đốc công ty R2D, cho biết việc bán hàng qua các kênh thương mại điện tử là một chiến lược cần thiết của DN mình để quảng bá thương hiệu ra nước ngoài. 

Hiện nay, sản phẩm “than gáo dừa không khói” của R2D đã tìm được chỗ đứng tại thị trường Hồng Kông và đang tiếp hướng để thâm nhập vào Mỹ, EU bằng chính thương hiệu của mình.

Có lẽ các DN nội khác, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nên tham khảo cách làm của công ty này. Nguyên liệu gáo dừa (một thế mạnh ở Bến Tre) lâu nay chủ yếu để làm thủ công mỹ nghệ nhưng giá trị không cao và nhiều nhất là xuất thô giá rẻ sang Trung Quốc để làm than dừa. 

Thế nhưng, qua dày công nghiên cứu của công ty R2D, gáo dừa được chế biến thành sản phẩm “than không khói” vốn đang có nhu cầu sử dụng cao tại các nhà hàng, quán ăn ở trong và ngoài nước.

Dự án “than không khói” của R2D mới đây đã đoạt ngôi quán quân Cuộc thi Dự án khởi nghiệp Nông nghiệp lần 3 do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) tổ chức với quy mô trên toàn quốc. 

Theo đánh giá, đây là một dự án ứng dụng tốt công nghệ trong sản xuất, có tính sáng tạo, chú trọng đến các nhân tố quan trọng nhất đó là thương hiệu, kinh doanh, phát triển thị trường.
 

Sản phẩm “than gáo dừa không khói” của DN Việt

Thương hiệu đi đôi giá trị

Trong vấn đề thương hiệu và thế mạnh của địa phương, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường dẫn chứng như Bắc Giang có ba sản phẩm chính là vải thiều 20.000ha có giá trị sản lượng 5.000 tỷ đồng, gà đồi Yên Thế có 5 triệu con giá trị 1.400 tỷ đồng; na (mãng cầu) Lục Nam có giá trị gần 1.000 tỷ đồng. Như vậy, riêng một tỉnh lựa chọn đúng ngành hàng đã có giá trị gần 500 triệu USD.

Điều quan trọng ở đây là các địa phương cần lựa chọn đặc sản để đầu tư sản xuất, điển hình như xoài Cao Lãnh; rau, hoa Đà Lạt; nhãn lồng Hưng Yên; cam Cao Phong…

Bộ trưởng cũng cho biết Việt Nam có gần 9.000 xã, trải dài 15 vĩ độ, nhiều chủng tiểu khí hậu, có nhiều sản phẩm mang tính địa phương, nếu biết lựa chọn thực hiện theo quy mô công nghệ cao thì sẽ có kết quả rất tốt.

Theo Gs.Ts Võ Tòng Xuân, việc xây dựng thương hiệu của DN Việt đòi hỏi phải có đặc tính luôn đi đôi với giá trị, tạo tiếng vang bằng giá trị thực và luôn thích ứng với biến động thị trường, “độc nhất vô nhị”, nổi trội so với đối thủ.

Trong quá trình xúc tiến thương mại, các DN Việt (chẳng hạn như trong lĩnh vực chế biến thực phẩm) nên giới thiệu sản phẩm cho một số nhà hàng lớn, siêu thị, các công ty cung ứng thức ăn trên máy bay…DN cũng cần quảng cáo trong và ngoài nước trên nhiều phương tiện, trang web của công ty.

Hơn thế nữa, phía Nhà nước cần có những dự án tài trợ cho DN tham gia triển lãm tại các hội chợ nông nghiêp hoặc lương thực ở trong nước và quốc tế như Thaifex tại Bangkok, Singapoe, EU, Mỹ…

Việc “chăm sóc” cho mỗi ngành hàng nông sản Việt cũng là vấn đề cần được lưu ý, đặc biệt là trách nhiệm của các DN, tổ chức tiêu thụ khi vẫn “thân ai nấy lo”, không có nhạc trưởng. 

Chưa kể, họ còn cất giấu thông tin và điều chỉnh chiến lược cho cá nhân. Các tổ chức tiêu thụ do nhiều thành phần làm chủ, đa số không phải nông dân lại không đóng góp cho nghiên cứu phát triển. Điều đáng nói là vấn đề ho tận dụng nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào hiện có, không liên hệ mật thiết đến lợi ích nông dân.

Mặt khác, việc xuất khẩu của DN Việt cũng chỉ dừng ở mối quan hệ với các nhà nhập khẩu nước ngoài và không tiếp cận được với hệ thống phân phối bán lẻ, không tiếp cận được với người tiêu dùng. 

Trong khi đó, ở khâu điều hành, nghiên cứu, phát triển và “chăm sóc” thị trường thì còn nhiều “điểm nghẽn”. Nhiều tổ chức khoa học (Viện, trường) thuộc Nhà nước đang rất cần “nhạc trưởng”. Nhà nước dù có góp kinh phí, cố gắng chăm sóc thị trường nhưng không kham nổi.

Với hơn 90% các nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn còn xuất khẩu thô với giá rẻ thì việc phát triển được những DN nội có những hướng đi mới trong việc quảng bá thương hiệu, từ bỏ gia công, xuất thô để tiến tới sử dụng công nghệ sản xuất, chế biến nông sản có giá trị cao hơn để xuất khẩu là điều cần được khuyến khích, nhân rộng hơn nữa trong thời gian tới.
 

Thế Vinh
 

Ý kiến bạn đọc ()