Lăng kính
17/12/2017 09:01 PM +07:00
01/12/2017 08:19 AM +07:00

EU giơ thẻ vàng, doanh nghiệp hải sản giơ tay

Việc nhận thẻ vàng của EU đang khiến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hải sản lo lắng với những tác động xấu ảnh hưởng trực tiếp tới việc xuất khẩu hải sản sang EU. Trong khi đó, hoạt động triển khai khắc phục thẻ vàng IUU của Việt Nam, nhất là sửa đổi các thông tư liên quan, vẫn còn nhiều tranh cãi.

 

Theo Hiệp hội chế biết xuất khẩu thủy sản (VASEP)), trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hải sản của Việt Nam hàng năm với 1,9 – 2,2 tỷ USD thì EU và Mỹ, mỗi thị trường chiếm 16-17% với giá trị khoảng 350 – 400 triệu USD/năm.

Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hải sản (cá ngừ, mực – bạch tuộc, cá thu, cua-ghẹ, cá biển các loại) từ Việt Nam sang EU luôn đạt kim ngạch 350 – 400 triệu USD/năm trong 3 năm qua, tương đương xấp xỉ 30% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ hải sản của Việt Nam sang EU.

Cú giáng vào ngành hải sản

Việc vừa qua, EU cảnh báo thẻ vàng với Việt Nam vì những nỗ lực của Việt Nam chưa đủ để chống khai thác bất hợp pháp như một cú giáng vào nỗ lực thúc đẩy gia tăng xuất khẩu thuỷ hải sản Việt vào thị trường chủ lực này.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) mới đây cũng đã phê duyệt kế hoạch thực hiện một số giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của EU. 

Trong tháng 11/2017, bộ này cũng tiến hành rà soát dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung các Thông tư của bộ (số 51, 25, 26) quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thuỷ sản.

Song song đó, phía VASEP và các DN hải sản cũng đang phối hợp với Bộ NN&PTNT để triển khai các hoạt động nhằm khắc phục thẻ vàng của Việt Nam. Điều mà các DN chế biến hải sản xuất khẩu đang quan tâm chính là nội dung các dự thảo Thông tư sửa đổi bổ sung các Thông tư nêu trên mà theo phía DN là có một số điểm còn chưa phù hợp, gây khó cho DN.

Xoay quanh vấn đề này, góp ý tại hội nghị về nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản để sản xuất, xuất khẩu do VASEP tổ chức tại Tp.HCM ngày 30/11, ông Huỳnh Thanh Lĩn, Giám đốc xuất nhập khẩu của công ty TNHH Hải Vương (khu công nghiệp Suối Dầu, Khánh Hoà), lưu ý việc yêu cầu DN phải nộp ngay giấy chứng nhận khai thác của EU (C/C) trong hồ sơ kiểm dịch động vật thuỷ sản như trong dự thảo sửa đổi thông tư là điều khó thực hiện được.

Theo ông Lĩn, cơ quan quản lý nên cân nhắc lại vấn đề này. Trong cảnh báo IUU (hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý), điều mà EU quan tâm là cách thức quản lý ở Việt Nam như thế đối với nguyên liệu hải sản chế biến có hợp pháp hay không. Thay vào đó, DN có thể cung cấp giấy chứng nhận của thuyền trưởng hoặc giấy xác nhận của người bán (bản sao có xác nhận của DN). 

Nghĩa là, DN sẽ nộp C/C cho Trung tâm vùng của NAFIQAD (Cục quản lý chất lượng nông lâm và thủy sản) khi nộp hồ sơ xin cấp xác nhận nguyên liệu thuỷ sản có nguồn gốc từ nhập khẩu cho lô hàng xuất khẩu đi EU của mình (tức là nộp C/C vào thời điểm đăng ký xuất khẩu lô hàng).

Việc nhận thẻ vàng của EU cũng được cho là gây ra nhiều tác động xấu ảnh hưởng trực tiếp đến các DN xuất khẩu cá ngừ. Ông Thanh, đại diện cho một số công ty nước ngoài có 4 nhà máy chế biến cá ngừ xuất khẩu tại Tp.HCM, Long An, Bình Dương và Đà Nẵng, cho biết hàng năm các công ty này nhập khẩu cá ngừ khoảng 30.000 tấn. 

Việc nhận thẻ vàng của EU tác động trực tiếp đến các DN xuất khẩu cá ngừ

Doanh nghiệp chịu trận

Để duy trì sản xuất cho 4 nhà máy này cũng như tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, nguồn nguyên liệu nhập khẩu là yếu tố sống còn của DN (chiếm khoản 75 – 95% nhu cầu).

Theo ông Thanh, việc nhập khẩu cá ngừ là yếu tố căn cơ để duy trì sản xuất trong bối cảnh nguồn nguyên liệu trong nước không đủ. Điều này cũng nhằm làm giảm bớt áp lực khai thác ở Việt Nam, nhất là khi việc khai thác này còn nhỏ lẻ, chưa có những hệ thống, quy định chặt chẽ về đánh giá, kiểm soát việc đánh bắt nguồn cá ngừ này. 

“Cho nên, EU giơ thẻ vàng là cơ hội để Việt Nam cải tổ lại ngành thuỷ hải sản. Nhưng việc cải tổ cần có thời gian và trong lúc chờ đợi ngành hải sản Việt vươn lên, đáp ứng nguyên liệu sản xuất trong nước thì các DN phải sử dụng các nguyên liệu ngoại nhập” – ông Thanh bày tỏ.

Điều đó cũng đòi hỏi sự khôn ngoan của các cơ quan quản lý để tạo thuận lợi cho DN chế biến hải sản xuất khẩu.

Như lưu ý của ông Thanh, lượng hàng cá ngừ trên thế giới chỉ có 20% sản lượng là đáp ứng yêu cầu của EU, còn 80% còn lại đi vào những thị trường không phải EU. Điều này đòi hỏi cách thức quản lý phù hợp để IUU không ảnh hưởng đến số phần trăm còn lại. 

Những đề nghị của VASEP cũng cho thấy mục tiêu duy nhất là trong quá trình kiểm soát của cơ quan quản lý không làm ảnh hưởng đến các thị trường xuất khẩu khác ngoài EU.

Chủ một DN xuất khẩu hải sản ở Khánh Hoà lưu ý là chúng ta đã thực hiện cấp C/C từ năm 2010 đến nay tương đối ổn định mà EU đã chấp nhận và theo đúng thông lệ quốc tế, cho nên trong dự thảo sửa đổi Thông tư không nên sửa vấn đề này. Và điều mà các cơ quan quản lý và DN cần làm hiện giờ là nên tập trung vào xử lý 5 vấn đề mà phía EU đã cảnh báo với Việt Nam khi giơ thẻ vàng.

Theo vị chủ DN này, chính các DN nhập khẩu thuỷ hải sản để sản xuất và xuất khẩu thì họ lo IUU hơn ai hết. Bởi vì, nếu hàng qua đến EU mà bị trả về hoặc bị tiêu huỷ thì DN là đối tượng phải chịu trận đầu tiên.

Thế Vinh

 

Ý kiến bạn đọc ()