Lăng kính
24/02/2018 03:27 AM +07:00
05/02/2018 09:09 AM +07:00

Giá vốn quá cao, doanh nghiệp chật vật

Tự thân giá vốn của các doanh nghiệp (DN) trong nước đang gấp 3 – 4 lần so với nước ngoài nên hàng Việt rất khó có thể cạnh tranh với hàng hoá các quốc gia khác. Trong khi đó, lộ trình những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết cứ từ từ tới, DN nội dù không muốn cũng không được, trong khi chính sách hỗ trợ vẫn chưa “đủ đô”.

 

Cuối tuần qua, nữ chủ tịch một hội DN ở Tp.HCM có chia sẻ rằng giá vốn của hàng Việt hiện nay quá cao nên rất khó cạnh tranh. Bà cho biết mức lãi suất vốn vay hỗ trợ DN ở Nhật Bản là 0%/năm, ở Đài Loan là 2%/năm. Còn mức lãi suất ở Trung Quốc là 3%/năm, cũng có thể gọi là cao nhưng họ hỗ trợ DN xuất khẩu (XK) rất nhiều, đặc biệt là giúp đỡ ngầm từ bên dưới.

Còn mức lãi suất vốn vay cho các DN Việt Nam hiện nay phần lớn là 7%. Ông Phạm Thái Bình, Giám đốc công ty TNHH Trung An (một trong những DN có sản lượng gạo XK lớn nhất Cần Thơ), xác nhận DN của ông được hưởng mức lãi suất ưu đãi 5 – 6% dành cho DN XK, còn thông thường, những DN khác phải chịu mức 7 – 7,5%.

“Tội nghiệp” hàng Việt

Vị lãnh đạo hội DN đặt vấn đề rằng mức lãi suất cao như vậy thì có “tội nghiệp” cho DN Việt Nam hay không, làm sao có thể cạnh tranh với hàng hoá của các nước. Tự thân giá vốn của hàng Việt đã gấp 3 – 4 lần người ta. 

Chưa kể, DN còn đối mặt với thanh kiểm tra, “đau đầu” với chi phí vận chuyển, nhất là khi các trạm BOT mọc đầy trên đường, cộng thêm hàng loạt điều kiện đầu tư kinh doanh (khoảng 5.719 điều kiện).

Điều này đã được chứng minh ở lĩnh vực thuỷ sản XK. Trong số những DN sụt giảm doanh thu, thua lỗ, có khoảng 1/3 nguyên nhân đến từ giá vốn hàng bán cao, “nuốt” lợi nhuận của DN. 

Đơn cử như công ty thuỷ sản Hùng Vương trong quý đầu niên độ 2017-2018, doanh thu thuần đã sụt giảm mạnh, đạt 1.146 tỷ đồng (-62%). Trong khi đó, giá vốn hàng bán lại cao vượt doanh thu khiến quý này thuỷ sản Hùng Vương lỗ gộp hơn 30,6 tỷ đồng.

Có thể thấy, áp lực lãi vay gia tăng vẫn là nỗi ám ảnh với nhiều DN nội địa. Báo cáo tài chính quý IV/2017 mới công bố của công ty CP Công nghiệp Cao su Miền Nam cho thấy chi phí lãi vay tăng 75% so với quý IV/2016, lên hơn 28 tỷ đồng. 

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN cũng tăng khá mạnh so với cùng kỳ. Nguyên nhân được chỉ rõ rằng những chi phí này tăng là vì do dư nợ vay và lãi suất ngân hàng tăng. 

Nếu tính luỹ kế năm 2017, giá vốn hàng bán của DN này tăng 18%, lên hơn 3.084 tỷ đồng. Cùng với đó, chi phí lãi vay, chi phí quản lý DN tăng cao, lợi nhuận sau thuế do vậy chỉ còn 55 tỷ đồng, giảm gần 80% so với năm 2016.

Đạm Cà Mau vừa công bố lợi nhuận sau thuế quý IV/2017, sụt giảm đến 84% khi chỉ đạt 39 tỷ đồng. Trong quý, doanh thu suy giảm 11%, xuống còn 1.550 tỷ đồng, giá vốn tăng cao khiến lợi nhuận gộp giảm mạnh 74% về 144 tỷ đồng. 

Tự thân giá vốn của hàng Việt đã gấp 3 – 4 lần so với sản phẩm ngoại

“Choáng” với nhiều FTA

Bên cạnh vấn đề giá vốn, giới chuyên gia lưu ý lộ trình các FTA mà Việt Nam ký kết cứ từ từ tới, không muốn cũng không được. Vấn đề là nước họ khi đàm phán ký FTA, lúc ký thì tất cả mọi điều để “lót ổ” cho DN của họ đã được thực hiện xong. Còn các DN Việt đến giờ vẫn còn “choáng” với nhiều FTA trong khi bản thân họ cảm thấy chưa nhận được nhiều hỗ trợ để cạnh tranh.

Trong chính sách hỗ trợ, chẳng hạn với DN đầu tư làm nông nghiệp, ông Phạm Thái Bình cho biết ông thông cảm với ngân sách hạn hẹp của Nhà nước, mặc dù Chính phủ và các địa phương đã đưa ra những chính sách hỗ trợ cho DN, liên kết với nông dân. 

“Chính phủ cũng biết vai trò của DN là quan trọng, là chủ động để thay đổi tái cơ cấu nông nghiệp (đặc biệt là ngành hàng lúa gạo). Tuy nhiên, cũng cần phải có thời gian để bố trí nguồn vốn hỗ trợ cho DN” – ông Bình chia sẻ. 

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), khả năng tiếp cận tài chính được coi là một trong những trở ngại hàng đầu trong kinh doanh theo các DN được khảo sát ở Việt Nam. Tỷ lệ DN cho đó là trở ngại chính cao hơn rất nhiều so với Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc.

Khảo sát môi trường kinh doanh thuận lợi năm 2018, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 68 trong số 190 nền kinh tế trên toàn thế giới nhờ một số cải cách nhằm tạo thuận lợi kinh doanh: Cấp điện, Cấp tín dụng, Nộp thuế, Thương mại mậu biên và Thực thi hiệu lực hợp đồng. Năm trước, Việt Nam xếp thứ 82 trong cùng khảo sát này.

WB cho rằng mặc dù thứ hạng của Việt Nam vẫn đứng sau một số quốc gia trong khu vực, như Singapore (thứ 2), Malaysia (thứ 23), Thái Lan (thứ 46) và Bruney (thứ 56), và đã có nhiều tiến bộ nhưng Việt Nam vẫn cần tiếp tục cải thiện môi trường pháp quy trong nhiều lĩnh vực như: xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán, cấp điện, bảo vệ nhà đầu tư, nộp thuế, thương mại mậu biên và khởi sự DN. 

Như khuyến nghị của WB, điều cần làm là tiếp tục cải cách để cải thiện chất lượng pháp quy và đảm bảo môi trường nhất quán, hiệu quả và công bằng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân, tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm.

Thế Vinh

 

Ý kiến bạn đọc ()