Lăng kính
21/11/2017 01:00 PM +07:00
09/11/2017 08:10 AM +07:00

Hút vốn tư nhân vào các dự án ngành nước

Nhiều doanh nghiệp trong ngành cấp thoát nước có lợi nhuận tốt (đa phần có vốn nhà nước), nhưng các dự án cấp thoát nước vẫn chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân do đặc thù của công trình còn mang tính phúc lợi xã hội cao. Như vậy, cần mô hình nào phù hợp để hút vốn tư nhân vào lĩnh vực có nhiều triển vọng này?

 

Ông Cao Lại Quang, Chủ tịch Hội Cấp Thoát Nước Việt Nam (VWSA), cho biết nhu cầu vốn đầu tư xây dựng thêm nhà máy cấp nước, cải thiện hệ thống cấp nước hiện tại cho Việt Nam từ nay đến năm 2020 được dự báo sẽ vào khoảng 2,57 tỷ USD (tương đương 57.600 tỷ đồng). 

Nhu cầu vốn lớn

Tính bình quân, mỗi năm Việt Nam sẽ cần nguồn vốn 0,64 tỷ USD (khoảng 14.400 tỷ đồng) cho nhu cầu đầu tư cấp nước đến năm 2020. Nhu cầu vốn này đến từ việc tầng lớp trung lưu đô thị trong dân số Việt Nam được cho là sẽ đạt 44 triệu người vào năm 2020. Do đó, nhu cầu về cấp nước đô thị cũng sẽ tăng lên từ 9,4 đến 9,6 triệu m3/ngày đêm. 

Ngoài ra, quỹ đầu tư cho xây dựng máy xử lý nước thải đô thị trong 5 năm tới dự kiến sẽ là 6,9 triệu USD. Việt Nam có hơn 800 khu đô thị với tổng lượng nước tiêu thụ là 8 triệu m3/ngày, tăng 1,6 lần suốt 10 năm qua. 

Tuy nhiên, tỷ lệ thất thoát nước chiếm đến 24%. Trong khi đó, chỉ có 37 nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động với công suất 890.000m3/ngày. Vì vậy, lượng nước thải đô thị được thu gom và xử lý rất thấp, chỉ đạt 12 – 13%.

Phát biểu trong khuôn khổ hội thảo quốc tế và triển lãm quốc tế ngành cấp thoát nước – Vietwater 2017 diễn ra ở Tp.HCM ngày 8/11 (quy tụ hơn hơn 480 doanh nghiệp trong ngành nước và năng lượng từ 38 quốc gia và vùng lãnh thổ), bà Phan Thị Mỹ Linh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, khẳng định lĩnh vực nước là ngành ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay. 

Mục tiêu là tỷ lệ dân cư được cung cấp nước sạch đạt 100% và mở rộng hệ thống cấp thoát nước đô thị đạt 80%. Cùng với đó, thời gian qua, Bộ Xây dựng cũng thúc đẩy hoàn thiện nhiều cơ chế chính sách trong ngành nước.

Theo ông Cao Lại Quang, dù đạt những kết quả tích cực nhưng ngành cấp thoát nước ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, phạm vi phục vụ còn thấp (nhất là ở vùng nông thôn tỷ lệ mới đạt 50 – 60%), thất thoát, thất thu còn cao (khoảng 22%), tỷ lệ xử lý nước thải qua các nhà máy tập trung mới đạt 12%.

Một vấn đề đặt ra hiện nay là nhu cầu vốn để đầu tư các dự án cấp nước ở Việt Nam trong 5 năm tới là rất lớn. Tuy nhiên, với xu thế nguồn vốn ODA giảm dần, nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, việc kêu gọi các nguồn lực từ các doanh nghiệp (DN) ở khu vực tư nhân là rất cần thiết trong lúc này.

Ông Peter Moore, Chủ tịch Hội Nước Australia, nhận định ngày càng có khuynh hướng chuyển dần sang khu vực tư nhân trong lĩnh vực cấp nước. Mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trở nên hấp dẫn với chính phủ các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) vì nó được đánh giá như một cơ chế ngoài ngân sách phục vụ cho phát triển lĩnh vực cấp nước. 

Mô hình PPP còn giúp đưa ra những lựa chọn tốt hơn về thiết kế, công nghệ, xây dựng, sự vận hành và chất lượng dịch vụ về cung cấp nước sạch.

Giới đầu tư quan tâm lớn đến triển vọng ngành cấp thoát nước Việt Nam

Triển vọng mô hình PPP

Theo giới chuyên gia, xu hướng hiện nay trong đầu tư các công trình cấp nước là thị trường hoá trong cung ứng dịch vụ, áp dụng mô hình nhà nước và tư nhân kết hợp trong quản lý và đẩy mạnh tham gia của tư nhân trong quản lý vận hành hệ thống cấp nước.

Hiện nay, các hình thức thực hiện mô hình PPP phổ biến và có thể áp dụng cho các công trình cấp nước nông thôn như: Mô hình BOT (xây dựng – vận hành – chuyển giao), BOO (xây dựng – sở hữu – vận hành), BTO (xây dựng – chuyển giao – vận hành).

Để thúc đẩy thực hiện mạnh mẽ về PPP đối với các dự án cấp nước, ông Lương Văn Anh, Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn), cho rằng cần tập trung lựa chọn các dự án cấp nước tiềm năng, ưu tiên các dự án có tính thương mại cao.

Thống kê của Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho thấy ở Việt Nam khoảng 16.000 công trình cung cấp nước đang có các mô hình quản lý như cộng đồng, HTX, trung tâm nước sạch, tư nhân, DN (chủ yếu là công ty cấp nước của tỉnh, các công ty cổ phần, công ty TNHH), uỷ ban nhân dân, ban quản lý.

Trong các mô hình này, mô hình cộng đồng quản lý chiếm đến 73,48%, tiếp đến là UBND xã quản lý (chiếm 13,11%), riêng DN quản lý chỉ chiếm 4,2%, còn tư nhân quản lý cực kỳ khiêm tốn (khoảng 0,4%). 

Nhược điểm chung của các mô hình quản lý này là có tính chuyên nghiệp thấp, trình độ và năng lực quản lý rất yếu, sự minh bạch về tài chính rất khó được kiểm tra và xác định. Ngay như chất lượng nước, số lượng nước cũng không kiểm soát được, dẫn đến mất sự tin tưởng và sử dụng nước của người dân…

Như lưu ý của giới chuyên gia, việc thu hút các nguồn vốn xã hội hoá cho lĩnh vực cấp nước đã có kết quả ở một số địa phương (tập trung ở những vùng đồng bằng, khu dân cư tập trung, kinh tế phát triển). Thế nhưng, các vùng khác thì còn ít, nhìn chung là chưa hấp dẫn các nhà đầu tư do đặc thù của công trình còn mang tính phúc lợi xã hội cao.

Nên nhắc thêm ngành nước vẫn đang nhận được sự chú ý đầu tư của các DN trong và ngoài nước, cũng như các quỹ đầu tư khi mà nhiều DN (đa phần có vốn Nhà nước) trong ngành này đang có kết quả kinh doanh khá tốt. 

Điển hình như Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco) hay Tổng công ty Đầu tư Xây dựng Cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam (VIWASEEN) hoặc công ty CP Nước – Môi trường Bình Dương (Biwase).

Giới đầu tư cũng đang quan tâm đến Quyết định 1232/QĐ-TTg được ban hành vào tháng 8/2017 khi công bố danh mục thoái vốn nhà nước đến năm 2020, trong đó có cho biết Nhà nước sẽ tiến hành thoái vốn dần dần trên 57 công ty thuộc ngành cấp thoát nước, trải dài từ Hậu Giang đến Lạng Sơn.

Trong số này, có 24 công ty được bán với tỉ lệ sở hữu hơn 50% vốn điều lệ, phần còn lại, 33 công ty sẽ thoái vốn ở tỉ lệ thấp hơn.
 

Thế Vinh
 

Ý kiến bạn đọc ()