Lăng kính
20/01/2018 08:33 PM +07:00
05/01/2018 07:40 AM +07:00

Kết nối với doanh nghiệp FDI vẫn hạn chế

Nhìn vào tỷ trọng ngày càng tăng về đầu vào trung gian nhập khẩu (NK) của khu vực doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) năm 2017 sẽ thấy hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và kết nối với các nhà cung cấp trong nước với các DN FDI vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân của tồn tại cố hữu này hiện nằm ở đâu?

 

Xuất khẩu (XK) tuy đạt nhiều thành tích khả quan nhưng sự chi phối từ các nhà đầu tư FDI vẫn tiếp tục thể hiện rõ. XK của khu vực FDI (kể cả dầu thô) trong năm vừa qua đạt 155,24 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm đến 72,6% kim ngạch XK.

Tương quan trái chiều

Chính các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) mới đây cũng thừa nhận động lực tăng trưởng XK mạnh trong thời gian qua ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ khu vực FDI. Khu vực này cũng làm tăng nhu cầu NK máy móc và thiết bị để mở rộng đầu tư cũng như vật tư và hàng hóa trung gian để chế xuất.

Thực tế, các nhà đầu tư FDI cũng là thành phần chi phối trong hoạt động NK. Số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho biết NK của khu vực FDI trong năm 2017 đã đạt 126,44 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm gần 59,9% kim ngạch NK. 

Mặc dù khu vực FDI đạt thành tích thặng dư thương mại cao (khoảng 9% GDP năm 2016), nhưng theo chuyên gia WB, khi nhìn vào tỷ trọng ngày càng tăng về đầu vào trung gian NK của khu vực này sẽ thấy hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và kết nối với các nhà cung cấp trong nước còn hạn chế.

Trong khi phần lớn các DN FDI ở Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan mua đầu vào trong nước, con số này ở Việt Nam chỉ bằng 2/3. Nếu quan sát từ phía cầu, sẽ thấy tỷ lệ các DN có sở hữu nước ngoài sử dụng đầu vào sản xuất trong nước còn rất thấp ở Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực. 

Hơn nữa, xu hướng mua đầu vào trong nước của các DN FDI cũng tương quan trái chiều với tỷ lệ doanh số XK trực tiếp của họ và tỷ lệ sở hữu của nước ngoài về vốn. Điều này càng khẳng định là các DN FDI và liên doanh tìm kiếm thị trường có xu hướng thiết lập kết nối theo chiều ngược nhiều hơn.

Theo một cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách công thương (Bộ Công Thương) với 194 DN công nghiệp hỗ trợ từ đầu năm 2017, số lượng DN nội địa cung ứng cho các công ty đa quốc gia, các DN FDI tại Việt Nam còn rất khiêm tốn. Nhất là trong các ngành công nghiệp quan trọng như sản xuất, lắp ráp ôtô, điện tử, máy công nghiệp… 

Trao đổi với Thời báo Kinh Doanh, một chuyên gia về nghiên cứu phát triển (R&D) cho rằng phần lớn DN nhỏ và vừa Việt Nam đến thời điểm này còn gặp rất nhiều thách thức, rào cản trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn. Thực tế, việc tham gia vào chuỗi cung ứng của DN FDI vẫn còn quá sức với nhiều DN Việt.

Số DN nội địa cung ứng cho các DN FDI còn rất khiêm tốn trong các ngành sản xuất, lắp ráp ô tô, điện tử…
 

Cung – cầu đều khó

Bà Nguyễn Dạ Quyên, chuyên gia về quản trị cung ứng, Giám đốc vận hành kinh doanh khu vực Đông Nam Á của công ty CEL Consulting, từng lưu ý rằng “các DN Việt theo được nửa chặng đường thủ tục cung ứng cho DN FDI rồi thì bỏ cuộc”. 

Điều này cho thấy tính cần thiết của việc nắm được đường đi của chuỗi cung ứng. Dĩ nhiên, trước tiên, DN phải bảo đảm chất lượng sản phẩm. Cái khó của DN Việt khi bị “rớt giữa đường” là do chưa hiểu được hết những yêu cầu của các DN FDI.

Thực tế, khác biệt giữa các DN trong nước có khả năng và không có khả năng thiết lập kết nối theo chiều ngược với DN FDI là cơ sở để thiết kế chương trình nhằm tiếp tục phát triển những kết nối đó. Điều này đang diễn ra dựa trên chỉ tiêu về XK gián tiếp. 

Một số hạn chế và yếu kém của khu vực tư nhân trong nước trong khả năng kết nối lâu nay vẫn nằm ở chất lượng sản phẩm, khả năng tiếp cận tài chính, đổi mới sáng tạo và kỹ năng… 

Cuối cùng, những hạn chế lớn về môi trường kinh doanh cũng đã được chỉ ra theo nhận định của các DN. Đó là có phân biệt giữa DN “có kết nối” và DN “không có kết nối”.

Lẽ ra, đầu tư FDI cùng với thương mại quốc tế là một trong những phương thức quan trọng nhất để chuyển giao công nghệ và kiến thức quốc tế cho các DN trong nước. 

Hơn nữa, các DN đa quốc gia cung cấp công nghệ và kiến thức của mình cho các đơn vị thành viên ở nước chủ nhà, tạo điều kiện cho họ cạnh tranh thành công với các DN trong nước. Mặt khác, sẽ tác động lan tỏa qua các kết nối theo chiều ngược và xuôi giữa các DN trong nước và nước ngoài trong chuỗi cung ứng.

Vậy nhưng, tại Việt Nam, như nhận định của WB, các bằng chứng cho thấy những kết nối như vậy vẫn chưa phát triển do nhiều hạn chế cả từ phía cung và phía cầu, do chất lượng, khả năng tiếp cận tài chính và kỹ năng.

Dữ liệu khảo sát DN mới nhất cho thấy mặc dù đến một nửa các DN FDI có chứng nhận chất lượng được quốc tế công nhận, như ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, nhưng chưa đến 10% DN trong nước được chứng nhận. Tuy nhiên, tỷ lệ này tăng lên đến gần 1/4 ở các DN trong nước “có kết nối”. 

Rõ ràng, trong điều kiện đầu vào NK có hệ số giá/chất lượng cao hơn hoặc có hàm lượng công nghệ cao hơn đầu vào trong nước, thì tình trạng các DN trong nước phụ thuộc nhiều hơn vào đầu vào NK so với các DN “không kết nối” ở Việt Nam giống như ở các quốc gia tương đương, cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh cao hơn. 

Thế Vinh
 

Ý kiến bạn đọc ()