Lăng kính
25/11/2017 03:20 AM +07:00
14/03/2015 12:54 AM +07:00

Năng suất lao động thấp: Do công nghệ hay do con người?

Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2014, tính theo giá hiện hành bình quân chỉ đạt 74,3 triệu đồng/lao động/năm, thấp nhất trong khu vực châu Á. Và có 4 nguyên nhân giải thích vì sao năng suất lao động Việt Nam lại thấp đến như vậy...

Năm 2014, theo Tổng cục Thống kê, năng suất khu vực

Ông Malte Luebker Chuyên gia cao cấp của ILO tại châu Á - Thái Bình Dương
Năng suất lao động của một quốc gia hầu như không thể phản ánh mức độ chuyên cần và khả năng của người lao động của quốc gia đó. Năng suất lao động của một quốc gia trước hết phụ thuộc vào mức độ hiệu quả sử dụng lao động kết hợp với các yếu tố sản xuất khác, như máy móc và công nghệ, và lượng máy móc và công nghệ mà một người lao động của quốc gia đó được sử dụng. Bởi vậy, nếu từ các thống kê năng suất lao động mà kết luận rằng người lao động ở Malaysia hoặc Singapore có thể tạo ra một sản phẩm cụ thể nào đó nhanh hơn người lao động ở Việt Nam là chưa chính xác.

nông, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam đạt bình quân 28,9 triệu đồng/lao động/năm, chỉ bằng 38,9% so với mức bình quân chung.

Năng suất lao động cao nhất thuộc về ngành công nghiệp và xây dựng, với mức 133,4 triệu đồng/lao động/năm, tại khu vực dịch vụ, năng suất người lao động đạt 100,7 triệu đồng.

Không đóng vai trò quyết định

Tính theo giá “cơ sở” của năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2014 tăng 4,3% so với năm 2013. Tuy vậy, mức tăng giữa các ngành có khác nhau.

Trong đó, năng suất lao động khu vực công nghiệp và xây dựng tăng cao nhất, với 4,3%, khu vực dịch vụ tăng 4,4%, thấp nhất là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chỉ tăng 2,4%,

Cần nhấn mạnh, năng suất lao động của Việt Nam đã tăng đều đặn trong những năm qua, với tốc độ bình quân khoảng 3,7%/ năm trong giai đoạn 2005 - 2014. Nhưng về tốc độ tăng thì đang có dấu hiệu giảm dần, từ mức 5,3 % những năm trước xuống 3,7% như hiện tại.

Mặt khác, theo Tổng cục Thống kê, mức tăng năng suất lao động của Việt Nam, dù ở mức 5,3 % hay 3,7% đều là chậm, thậm chí là rất chậm. So sánh với một số quốc gia khác, năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/18 so với năng suất lao động của Singapore, 1/6 năng suất lao động của Malaysia, 1/3 năng suất lao động của Thái Lan và Trung Quốc, năng suất lao động của Việt Nam thậm chí còn thấp hơn cả Lào và Campuchia .

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh, trong lần phát biểu trước Quốc hội cuối năm 2013, cho biết: “Hiện nay, năng suất lao động tác động đến tăng trưởng thường thì từ 19 - 21%. Vốn đầu tư tác động vào tăng trưởng từ 57 - 60%. Năng suất tổng hợp gồm 3 yếu tố: vai trò khoa học kỹ thuật, mức độ áp dụng KHKT, trình độ quản lý và năng suất lao động, chúng ta chỉ đạt có 28% (trong khi có nước tiên tiến trên thế giới chiếm tới 60%)”.

Sự tụt hậu của năng suất lao động Việt Nam bắt nguồn trực tiếp từ trình độ tổ chức quản lý còn yếu

Từ đây, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhận xét tiếp “Nền kinh tế của chúng ta chưa thể thay đổi được. Gọi là tái cơ cấu nhưng đã làm được gì đâu mà tái cơ cấu, mới loe hoe thôi”.

Như vậy có thể thấy, trong khi nguồn lực lớn nhất để phát triển kinh tế là con người, thể hiện cụ thể qua năng suất lao động, thì tại Việt Nam, nguồn lực con người không đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế, mà là vốn đầu tư. Đó là một nhận xét không hề… dễ chịu, sau hàng chục năm xây dựng kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường. Vậy thì nguyên nhân là từ đâu?

Theo Tổng cục Thống kê, có 4 nguyên nhân khiến năng suất lao động của Việt Nam tuy có tăng nhưng suốt nhiều năm vẫn “đì đẹt” ở nhóm cuối bảng. Cụ thể, tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn ở mức cao, dù cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã có chuyển dịch mạnh. Thứ nữa, chất lượng nguồn lao động thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý. Ba là trình độ công nghệ còn lạc hậu. Và bốn là tỷ lệ DN công nghệ thấp, trung bình trong toàn ngành chế biến, chế tạo chiếm tới 88% tại thời điểm năm 2012.

Ngoài ra, còn một nguyên nhân nữa, theo Tổng cục Thống kê, là trình độ tổ chức quản lý còn yếu và hiệu quả sử dụng các nguồn lực thấp. Nhưng dường như đây mới thực sự là nguyên nhân chính.

Một vòng luẩn quẩn

Năm 2014 ghi nhận sự thành công vượt bậc trong phát triển của ngành nông nghiệp và sự tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ của khối các DN FDI. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) các mặt hàng nông nghiệp của Việt Nam đã đạt 30,86 tỷ USD, với 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Kết quả này là tăng 11,2% so với năm 2013, và là mức xuất khẩu cao nhất từ trước tới nay của ngành nông nghiệp.

Với các DN FDI, dự kiến năm 2014, khối này sẽ đạt KNXK 101,6 tỷ USD, chiếm 67,7% KNXK của cả nước (ước 150 tỷ USD). Về nhập khẩu, khối này đạt kim ngạch 84,5 tỷ USD, chiếm 57% kim ngach nhập khẩu (KNNK) của cả nước (ước 148 tỷ USD).

Theo tính toán, trong năm 2014, các DN FDI “tiếp tục” xuất siêu 17,1 tỷ USD, trong khi đó, các DN trong nước nhập siêu khoảng hơn 15 tỷ USD.

Đáng chú ý, cùng sử dụng lao động Việt Nam (do Tổng cục Thống kê đánh giá là chất lượng thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý), hoạt động trong môi trường pháp lý - về nguyên tắc - là tương đối đồng nhất…

Nhưng kết quả từ thực tế của ngành nông nghiệp và KNXNK của các DN FDI so với các doanh nghiệp nội thì khác nhau “một trời một vực”.

Với ngành nông nghiệp, ý nghĩa của sự tăng trưởng sẽ còn lớn hơn nhiều. Tuy sản lượng xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 20% tổng KNXK cả nước, nhưng nông nghiệp lại là nơi “tạo việc làm” và thu nhập cho trên 70% dân số Việt Nam.

Sự tăng trưởng xuất khẩu của ngành này sẽ đóng vai trò then chốt trong sự ổn định về xã hội và chính trị, môi trường đầu tư của Việt Nam. Nói cách khác, nếu nông nghiệp không ổn định, thì không có sự tăng trưởng của các ngành kinh tế và khu vực DN còn lại.

Khu vực nông nghiệp, nông thôn yên ổn chính là tiền đề cho các ngành kinh tế khác phát triển. Thế nhưng, ngành nông nghiệp đã “làm” được kết quả ấy, trên cơ sở chất lượng lao động và năng suất lao động rất thấp, như Tổng cục Thống kê đã tính toán.

Vậy thì điều gì đang xảy ra với năng suất lao động của Việt Nam, trong thực tế tăng trưởng tốt của ngành nông nghiệp và khối các DN FDI? Có thể nhận thấy, ngay các dự án FDI thành công nhất của Việt Nam trong những năm gần đây cũng không phải là dự án có hàm lượng công nghệ cao, đòi hỏi trình độ của người lao động cao tương ứng.

Trong đó, các “siêu dự án” của Samsung, LG… là những dẫn chứng tiêu biểu. Dù có vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD, KNXK hàng chục tỷ USD, nhưng đây đều là những dự án sử dụng hàng chục nghìn lao động chủ yếu với nhiệm vụ lắp ráp sản phẩm theo dây chuyền. Nói cách khác là những dự án cần nhanh tay hơn… nhanh trí.

Câu chuyện tương tự cũng có thể nhận ra trong ngành nông nghiệp, nơi người nông dân vẫn chủ yếu canh tác trên những mảnh ruộng nhỏ hẹp, nên thiếu cơ sở áp dụng công nghệ hiện đại và vì thế triệt tiêu khả năng nâng cao năng suất sản xuất.

Từ đây sẽ thấy, nguyên nhân lớn nhất trong sự tụt hậu của năng suất lao động Việt Nam bắt nguồn trực tiếp từ “trình độ tổ chức quản lý còn yếu và hiệu quả sử dụng các nguồn lực thấp”, lý do mà Tổng cục Thống kê xem là thứ yếu.

Đáng tiếc, sau 30 năm đổi mới, thì sự “yếu” này vẫn còn nguyên, chưa hề được thay đổi. Chuyện Việt Nam ngày càng “chìm” sâu trong nửa cuối bảng xếp hạng về năng suất lao động, do thế, là hợp lý và rất dễ hiểu.

Trần Duy

 

Ý kiến bạn đọc ()