Lăng kính
15/12/2017 01:47 PM +07:00
27/11/2017 08:13 AM +07:00

Vật vã bảo vệ sản xuất trong nước!

Trước áp lực từ hàng ngoại nhập, làm thế nào để khâu chính sách bảo vệ được lợi ích của các ngành sản xuất trong nước (chẳng hạn như cơ khí, thép, phân bón, hóa chất) nhằm tiếp tục gia tăng sản lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh…là cả vấn đề vật vã.

 

Có thể lấy những bất cập trong chính sách thuế để làm điển hình cho những rào cản nếu muốn bảo vệ và thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) sản xuất trong nước phát triển. 

Chẳng hạn với các DN cơ khí, ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hội DN Cơ khí điện Tp.HCM (HAMEE), mới đây cho biết các thiết bị lắp ráp trong nước đang chịu thuế 10-15%, trong khi máy móc nhập khẩu hưởng thuế 0%.

Cánh cửa hẹp

Chính điều này, được cho là đang làm cản trở DN cơ khí trong nước vì chi phí đầu vào cao, lợi nhuận thấp, dẫn tới khả năng cạnh tranh yếu. Nhất là khi nhiều DN cơ khí có nguồn vốn đầu tư hạn hẹp và vừa đối mặt “cánh cửa hẹp” cho sản phẩm cơ khí nội địa khi phải chịu cảnh thầu phụ, gia công làm thuê.

Trong khi đó, theo giới chuyên gia, ngành cơ khí không còn được coi là ngành mà Nhà nước cần nắm giữ chi phối cũng như đang thiếu một định hướng bài bản. Điều này buộc các DN cơ khí trong nước phải tự vươn lên làm chủ vận mệnh của mình để tồn tại và phát triển khi thiếu hẳn những trợ giúp cần có.

Hoặc với ngành phân bón, luật thuế sửa đổi áp dụng từ 1/1/2015 đã ảnh hưởng rất tiêu cực đến hiệu quả đầu tư của các dự án phân bón đã và đang thực hiện của các DN trong nước, đặc biệt là các dự án sử dụng công nghệ, thiết bị hiện do không được hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho nhà xưởng thiết bị. Cụ thể là toàn bộ thuế GTGT đầu vào của máy móc, thiết bị, xây lắp…không được khấu trừ sẽ phải ghi nhận tăng tổng mức đầu tư.

Bên cạnh đó, khi các dự án phân bón nội địa đi vào sản xuất, chi phí hàng năm bình quân cho nguyên vật liệu, vận chuyển, bốc xếp, bảo hiểm… cũng tăng thêm đáng kể. Với lý do này, DN phân bón trong nước cũng phải chịu sức ép tăng giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng là nông dân.

Bộ Tài chính cũng nhìn nhận bất cập này nên vừa qua, trong dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 luật thuế, có đề xuất đưa phân bón trở thành đối tượng chịu thuế GTGT nhằm tháo gỡ khó khăn cho các DN sản xuất phân bón trong nước. 

Thế nhưng, nhiều DN phân bón nội vẫn chưa được thuyết phục với hai phương án mà bộ này đưa ra là áp dụng mức thuế GTGT cho phân bón là 5% hoặc 10%.

Như nhận định trước đây của công ty chứng khoán Đại Nam, nếu như đề xuất đưa mặt hàng phân bón vào diện chịu thuế VAT ở mức 0% (thay vì miễn thuế như hiện tại) thì ước tính các DN sản xuất phân bón trong nước có thể tiết kiệm đến 2.500 tỷ đồng chi phí mỗi năm (theo Bộ Công Thương), từ đó, tạo sức cạnh tranh tương đối đáng kể về giá với phân bón nhập khẩu. 

Ngoài ra, từ ngày 19/8/2017 đến nay, sản phẩm phân bón nhập khẩu DAP và MAP đã chính thức bị áp thuế tự vệ nhưng nhiều DN sản xuất phân bón trong nước vẫn chưa hài lòng. 

Họ đề xuất Bộ Tài chính nên xem xét phương án tăng thuế nhập khẩu phân bón để bảo hộ sản xuất của các DN nội. Bởi lẽ, phân bón nội đang có thuế suất rất thấp, một số loại bằng 0%, gây thiệt hại cho các DN trong nước do áp lực cạnh tranh về giá.

Việc bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khá nan giải khi những vấn đề cũ chưa được giải quyết
 

Cái gì đang trói buộc?

Ngành thép, một vấn đề nóng mới đây gây ảnh hưởng lớn đến nhiều DN sản xuất thép trong nước để xuất khẩu chính là thông tin có đến “90% thép Việt Nam vận chuyển sang Hoa Kỳ được sản xuất tại Trung Quốc”. 

Trong một lần trao đổi với Thời báo Kinh Doanh, Ts Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, từng bày tỏ rằng tình trạng có những DN lẩn tránh thuế tự vệ với thép nhập khẩu từ Trung Quốc bằng cách giở chiêu trò khai không đúng mã số hàng hóa, đây là một nỗi lo lớn.

Với 3/4 lượng sắt thép nhập khẩu của Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc, một lượng lớn sắt thép giá rẻ của nước này đã nhập vào Việt Nam, khiến ngành sản xuất thép trong nước điêu đứng.

Chưa kể, theo những cam kết về thuế quan của các FTA đã ký kết, thuế suất nhập khẩu trung bình của thép và các sản phẩm thép vào Việt Nam sẽ dao động ở mức 0,69 – 7,55% trong giai đoạn năm 2015 – 2018 và sẽ tiếp tục giảm ở giai đoạn tiếp theo. Do đó, giới chuyên gia nhận định, áp lực cạnh tranh đối với các DN thép Việt Nam sẽ ngày càng lớn.

Kể ra một vài ngành như vậy để thấy việc bảo vệ cho các ngành sản xuất trong nước là cả vấn đề nan giải.

Mặc dù, một trong số những giải pháp trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Công Thương vẫn nhấn mạnh là cần tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất trong nước (đặc biệt là các ngành như: thép, ô tô, phân bón, hóa chất…) để tiếp tục gia tăng sản lượng, giải phóng lực lượng sản xuất gắn liền với đổi mới cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Cũng nên nhắc thêm rằng gánh nặng chi phí đến giờ vẫn là nỗi ám ảnh của các DN sản xuất trong nước. Đơn cử như lãi suất vốn vay (tính theo quãng dài 5 năm) ở Việt Nam, trong khi DN Việt Nam đang yếu mà lãi suất chịu gánh nặng lãi gấp đôi Trung Quốc thì làm sao cạnh tranh nổi.

“Từ cơ cấu ngành rồi đến lực lượng DN như thế nào, thị trường như thế nào để giải thích tại sao động lực của chúng ta mất dần đi. Quyết tâm thì không thấp nhưng bị tiêu mòn dần đi. Tạo sao lại như vậy. DN của chúng ta không có gì kém, nhưng có cái gì đang trói buộc chúng ta ghê quá”, – Ts.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Việt Kinh tế Việt Nam, đặt vấn đề.

Thế Vinh
 

Ý kiến bạn đọc ()