Mô hình
03/12/2016 01:04 AM +07:00
02/12/2016 07:04 AM +07:00

Ninh Bình: Nhân rộng mô hình HTX nông sản an toàn

Ở tỉnh Ninh Bình, nhu cầu tiêu dùng nông sản thực phẩm sạch đã thu hút nhiều hộ nông dân chuyển đổi sản xuất các vùng chuyên canh rau an toàn (RAT) lớn. Trong xu thế đó, Liên minh HTX tỉnh đang nhân rộng mô hình HTX Khánh Thành, một HTX điển hình của tỉnh về sản xuất tiêu thụ RAT.

HTX có tên đầy đủ là HTX Sản xuất và tiêu thụ nông sản an toàn xã Khánh Thành, ở cực nam huyện Yên Khánh (cách Tp.Ninh Bình 20km). HTX tập hợp các hộ trồng rau địa phương, từng bước xây dựng chuỗi giá trị nông sản, phù hợp mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Làm điểm mô hình HTX

Theo Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, HTX hiện có trên 30 thành viên, sản xuất đa canh trên vùng rau hơn 20 ha. Các sản phẩm chính của HTX bao gồm cải ngọt, cải ngồng, mướp đắng, dưa chuột, dưa bao tử, bí xanh, cà chua, rau gia vị… Thành viên HTX làm theo phương thức “mùa nào rau đấy” và tuân theo quy trình VietGap, vừa cho hiệu quả cao hơn nhiều so với thông thường, vừa bảo đảm chất lượng RAT đến tay người tiêu dùng.

Hàng ngày, HTX tiêu thụ khoảng 1 tấn rau, củ quả các loại, cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh. HTX đẩy mạnh đổi mới hoạt động bảo đảm đúng theo Luật HTX 2012. HTX đặt mục tiêu mỗi năm sản xuất 1.000 tấn nông sản an toàn (300 tấn rau thân lá và 700 tấn củ quả), lợi nhuận thành viên trên 625 triệu đồng/ha và lợi nhuận HTX đạt 400 triệu đồng/năm.

Ông Phạm Văn Thẫn - Giám đốc HTX, cho biết để hoạt động theo đúng định hướng chỉ đạo của tỉnh, HTX đã phân công cán bộ thường xuyên giám sát và chỉ đạo sản xuất để bảo đảm sản phẩm đủ điều kiện an toàn. Cùng với đó, HTX hướng dẫn các hộ thành viên làm sổ sách ghi chép toàn bộ quá trình sản xuất trên từng thửa ruộng của từng hộ gia đình theo đúng quy trình VietGap.

Thu hoạch sản phẩm RAT ở HTX Khánh Thành

Chiến lược phát triển của HTX là tạo điều kiện để các thành viên tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau thông qua việc tổ chức lại quy mô sản xuất, tích cực áp dụng tiến bộ KH-CN, cung cấp các sản phẩm dịch vụ đầu vào giá rẻ, các sản phẩm đầu ra lớn, bảo đảm chất lượng, an toàn và có địa chỉ tin cậy.

HTX cũng liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh trong khâu tiêu thụ sản phẩm nông sản bằng cách đặt các điểm giới thiệu sản phẩm tại các khu trung tâm thành phố, như các gian hàng trưng bày giới thiệu sản phẩm của Liên minh HTX tỉnh, Sở NN&PTNT, Sở KH&CN… HTX ký hợp đồng bao tiêu nông sản thành viên và cung ứng đến hệ thống siêu thị, nhà hàng, các sở ban ngành trong tỉnh, từ đó ổn định việc làm, nâng cao mức thu nhập cho thành viên và cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa bàn.

Những vấn đề đặt ra

Theo đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Ninh Bình giai đoạn 2015 - 2020, toàn tỉnh quy hoạch 8 vùng trồng RAT với tổng diện tích là 249,5 ha, bình quân trên 20 ha/vùng theo tiêu chuẩn từ VietGAP và tương đương trở lên. Mục tiêu phát triển các vùng rau bền vững, hướng tới đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Việc triển khai xây dựng thành công mô hình HTX Khánh Thành một trong những bước đi quan trọng giúp HTX, người nông dân chuyển đổi tư duy và tập quán thâm canh mới, an toàn và bền vững.

Có thể nói, mô hình HTX Khánh Thành trở thành “hạt nhân” nhân rộng thúc đẩy ngành nông nghiệp tiếp tục mở rộng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ rau đạt tiêu chuẩn VietGAP, tiến tới phát triển các vùng RAT theo chuỗi giá trị quy mô lớn ở tất cả các điểm đã quy hoạch, từng bước lan tỏa các vùng khác trong tỉnh.

Đi sâu sát nhất thực tế phát triển HTX, Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình cho rằng tới đây, để các HTX sản xuất và tiêu thụ nông sản an toàn thực sự hoạt động hiệu quả, cần sự chủ động vào cuộc của các cấp quản lý, các tổ chức, hiệp hội trong việc hỗ trợ nông dân bao tiêu sản phẩm, xây dựng chứng nhận cũng như thương hiệu cho các vùng rau, nông sản an toàn nhằm gia tăng giá trị nông sản, bảo đảm lợi nhuận cho sản xuất.

Thực tế ở Ninh Bình cần phải giải quyết rốt ráo một số vấn đề đặt ra, đó là có cơ chế người sản xuất phải làm thật, làm đúng và chịu trách nhiệm cuối cùng về sản phẩm, đồng thời tạo điều kiện xây dựng niềm tin với người tiêu dùng, minh bạch nguồn gốc sản phẩm; Xây dựng mạng lưới cửa hàng tiện lợi bán RAT (hiện vẫn có trên 80% người dân mua sắm thực phẩm hàng ngày ở các chợ truyền thống).

Về giá rau, hiện một số loại RAT có thể tin tưởng đang có giá cao hơn so với rau mua ngoài chợ, nên chưa phù hợp với đại đa số người tiêu dùng bình dân.

Lưu Đoàn

Ý kiến bạn đọc ()
 
 



Like Trang để theo dõi