Mô hình
25/11/2017 06:02 PM +07:00
14/11/2017 07:53 AM +07:00

Xuất khẩu quả - rau - hoa: Giải pháp thoát nghèo cho khu vực nông thôn - miền núi

Nhu cầu quả - rau - hoa trên thế giới và các sản phẩm này của Việt Nam còn tiềm năng phát triển rất lớn, được khách hàng yêu thích, lựa chọn, đồng thời mở ra một hướng thoát nghèo và từng bước làm giàu cho nông dân khu vực nông thôn - miền núi. Thời báo Kinh Doanh xin trích đăng bài viết của đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Tp.HCM gửi riêng cho Toà soạn.

 

Năm 2016 là năm đầu tiên ghi nhận việc mặt hàng quả - rau - hoa xuất khẩu (XK) đã đạt 2,45 tỷ USD vượt qua XK dầu thô là 2,4 tỷ USD và XK gạo là 2,16 tỷ USD. Chín tháng đầu năm 2017, XK quả - rau - hoa đạt 2,62 tỷ USD, lớn hơn 2,2 tỷ USD của XK dầu thô và 2,04 tỷ USD của XK gạo. 

Dự báo giá trị XK quả - rau - hoa năm 2018 sẽ vượt giá trị XK gạo thời điểm cao nhất (3,67 tỷ USD năm 2012) và trước năm 2025 sẽ vượt mốc 10 tỷ USD/năm - giá trị XK dầu thô cao nhất của nước ta (10,4 tỷ USD năm 2008). 

Lời giải mới thu hẹp chênh lệch 

Thu nhập của phần lớn người nông dân sinh sống ở khu vực nông thôn, miền núi nước ta thấp hơn khá xa so với khu vực thành thị và việc thu hẹp khoảng cách giữa hai vùng nếu giữ cách làm như hiện nay thì sẽ còn kéo dài rất lâu. 

Năm 1999, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn là 225.000 đồng/người, bằng 44% thu nhập bình quân đầu người ở thành thị là 516.000 đồng/người. Đến 2016 là 2,44 triệu đồng/người, bằng 55,8% thu nhập đầu người ở thành thị (4,4 triệu đồng/người). 

Thu nhập đầu người vùng Trung du - miền núi phía Bắc năm 1999 là 210.000/người, bằng 41% khu vực thành thị, đến năm 2016 là 2,03 triệu đồng/người, bằng 44,6% thu nhập thành thị. 

Nếu tốc độ thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị trong thời gian tới như bình quân 17 năm vừa qua (0,72%/năm) thì để thu nhập nông thôn bằng 2/3 của thành thị sẽ cần 15 năm nữa (năm 2031), còn để đạt được 80% thu nhập thành thị thì cần 33 năm nữa (năm 2049). 

Nếu tốc độ thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa Trung du - miền núi phía Bắc và thành thị sắp tới như bình quân 17 năm qua (0,34%/năm) thì để thu nhập vùng này bằng 2/3 của thành thị sẽ cần 59 năm nữa (năm 2075).

Những tính toán giả định này cho thấy, để tăng thu nhập nhanh hơn cho người dân ở nông thôn - miền núi, cần tìm kiếm các giải pháp mới hiệu quả hơn để phát triển sản xuất ở nông thôn và miền núi. 

Xét trên quy mô quốc gia, hơn 30 năm qua, phát triển công nghiệp và dịch vụ là con đường chủ yếu để tăng quy mô nền kinh tế (GDP), là xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 

Ba câu hỏi: trồng cây gì, nuôi con gì, bán cho thị trường nào và tổ chức sản xuất như thế nào vẫn là nền tảng để người nông dân có thu nhập cao hơn và nông nghiệp phát triển bền vững hơn. 

Thực tiễn đang chỉ ra nhóm sản phẩm mới có tiềm năng đột phá XK và nâng cao thu nhập cho nông dân: XK quả - rau - hoa đã vượt qua XK dầu thô và gạo. Chính phủ đã có chương trình phát triển sản phẩm quốc gia giai đoạn 2010 - 2020, trong đó đã xác định 6 sản phẩm nông nghiệp quốc gia để đầu tư phát triển đồng bộ từ khâu làm giống, công nghệ nuôi trồng, chế biến, đến thương mại hóa sản phẩm trong nước và nước ngoài.

Đó là: Lúa gạo năng suất, chất lượng cao; cá da trơn chất lượng cao và sản phẩm chế biến từ cá da trơn; các sản phẩm nấm ăn và nấm dược liệu; tôm nước lợ (tôm sú và tôm thẻ chân trắng); cà phê chất lượng cao; sâm Việt Nam.

Nhóm sản phẩm quả - rau - hoa chưa được chọn là sản phẩm quốc gia, song kết quả xuất khẩu năm 2016 là 2,457 tỷ USD, vượt qua giá trị XK dầu thô 2,4 tỷ USD và hơn cả giá trị sản phẩm quốc gia là gạo (2,16 tỷ USD) là một sự kiện đặc biệt của nông nghiệp Việt Nam.

Đối với mặt hàng gạo, sản phẩm quốc gia, XK 2011 là 3,66 tỷ USD, đạt mốc cao nhất 3,674 tỷ USD năm. Với sản phẩm quốc gia cà phê, XK năm 2011 là 2,76 tỷ USD và 3,33 tỷ USD năm 2016. 

Mặt hàng thủy sản, trong đó nòng cốt là hai sản phẩm quốc gia là cá da trơn và tôm, giá trị XK năm 2011 là 6,11 tỷ USD, đạt mức cao nhất 7,82 tỷ USD năm 2014, giảm xuống 7,05 tỷ USD năm 2016.

Có thể dự báo giai đoạn 2017 - 2025 như sau: XK gạo ở xu thế trì trệ, năm 2016 chỉ đạt 2,16 tỷ USD/năm, đến 2025 nếu có phục hồi, giá trị XK dự báo cũng chỉ ở mức 3 đến 4 tỷ USD.

XK cà phê ở xu thế ổn định, năm 2016 đạt 3,33 tỷ USD, đến 2025 nếu có tăng trưởng ổn định hơn thì cũng chỉ ở mức 3,5 - 4 tỷ USD.

XK thủy sản ở xu thế gia tăng, khoảng 5% năm, năm 2016 đạt 7,05 tỷ USD, đến năm 2025 nếu không có giải pháp đột phá mới thì sẽ đạt khoảng 11 tỷ USD.

XK dầu thô ở xu thế giảm và tăng chậm, năm 2016 đạt 2,4 tỷ USD, đến năm 2025 dự báo sẽ đạt 4 - 5 tỷ USD. 

Phát triển quả - rau - hoa XK gắn với ứng dụng công nghệ cao có thể trở thành một thành phần của chương trình du lịch văn hóa, sinh thái ở các tỉnh, góp phần thoát nghèo và tăng thu nhập nhanh hơn cho nông dân.

Chắp cánh cho XK quả - rau - hoa

Để biến thời cơ, tiềm năng quả - rau - hoa trở thành mặt hàng nông sản XK hàng đầu của Việt Nam trong 10 năm tới, nâng cao thu nhập đáng kể cho nông dân ở nông thôn và miền núi, chúng tôi đề xuất hai giải pháp chủ yếu: 

Một là, đưa nhóm sản phẩm quả - rau - hoa vào chương trình phát triển sản phẩm quốc gia 2017 - 2020 và sau đó, để có các giải pháp đồng bộ, khoa học, hiệu quả để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất, tối ưu hóa quy trình sản xuất, cung cấp giống có chất lượng cao, tiếp thị quốc tế, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống phân phối.

Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ các loại quả, rau và hoa chủ yếu đã XK thành công thời gian qua cần phổ biến rộng rãi các mô hình HTX kiểu mới trồng các loại quả, rau và hoa để HTX kiểu mới trở thành mô hình chủ đạo hỗ trợ và liên kết nông dân trồng các loại quả, rau và hoa XK.

Liên kết với các DN trong việc cung ứng đầu vào (giống chất lượng cao, phân bón, thiết bị phục vụ tưới, làm đất, thu hoạch thông minh) và tiêu thụ sản phẩm (kho bảo quản, đóng gói, vận chuyển, tiêu thụ) và vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất. 
Tỉnh Sơn La hiện có hơn 37.000 ha cây ăn quả, sản lượng đạt gần 200.000 tấn/năm và 10.000 ha trồng rau.

Từ năm 2016, Sơn La đã quy hoạch, phát triển 323 vùng cây ăn quả an toàn với diện tích hơn 8.200 ha, sản lượng 52.000 tấn/năm và 1.700 ha rau sạch với sản lượng 27.000 tấn/năm. Các HTX kiểu mới là mô hình chủ yếu để phát triển các vùng cây ăn quả và rau sạch. Năm 2017, lần đầu tiên mặt hàng quả an toàn và rau sạch của Sơn La đã XK vào Australia và Trung Quốc.

Tỉnh Lào Cai quy hoạch hơn 400 ha trồng cây ăn quả và rau ứng dụng công nghệ cao, với giá trị bán sản phẩm hơn 200 triệu đồng/ha/năm và 8.000 ha sản xuất nông nghiệp hướng tới ứng dụng công nghệ cao. Nhờ đó, thu nhập của người nông dân Lào Cai đã được cải thiện đáng kể. 

Tỉnh Bắc Giang có 30.000 ha vải thiều, chủ yếu trồng trên đồi và xung quanh nhà của nông dân. Năm 2016, sản lượng vải thiều Bắc Giang đạt 100.000 tấn, mang lại thu nhập bình quân 137 triệu đồng/ha. Vải thiều của Bắc Giang đã có mặt ở thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Hàn Quốc, Australia, Malaysia và đang đàm phán để đưa sang Thái Lan, Canada.

Hai là, phát triển quả - rau - hoa trở thành sản phẩm XK chủ lực của đất nước trong 10 năm tới, cho phép phát huy các lợi thế tự nhiên là đất đai, khí hậu đặc thù của từng tỉnh, không phụ thuộc vào đất có lớn hay không, từ quy mô của vườn bên cạnh gia đình, đến vườn, trang trại trên đồi, đến đất nông nghiệp ở đồng bằng quy mô từ vài chục, đến hàng trăm ha của nông dân trong các HTX hoặc sản xuất theo hợp đồng với các doanh nghiệp. 

Hơn nữa, phát triển quả - rau - hoa XK gắn với ứng dụng công nghệ cao có thể trở thành một thành phần của chương trình du lịch văn hóa, sinh thái ở các tỉnh, góp phần thoát nghèo và tăng thu nhập nhanh hơn cho nông dân.
 

Ý kiến bạn đọc ()