Ngân hàng
19/01/2018 10:12 PM +07:00
11/01/2018 08:24 AM +07:00

Cung vốn dựa quá nhiều vào tín dụng

Ngành ngân hàng đang phải chịu gánh nặng rất lớn trong việc cung cấp vốn cho các tổ chức kinh tế và cá nhân. Điều này đặt ra thách thức cho hệ thống ngân hàng thương mại khi nền kinh tế xảy ra những thay đổi bất lợi và ngược lại.

 

Đã tới lúc nguồn vốn cho nền kinh tế tìm kiếm thêm nhiều “chỗ dựa” tiềm năng như từ các thị trường chứng khoán, trái phiếu và bảo hiểm để đảm bảo an toàn, bền vững.

Gánh nặng dồn lên vai ngân hàng

Nhận xét về việc cung ứng vốn cho nền kinh tế của ngành ngân hàng trong năm 2017, Ngân hàng Nhà nước cho biết 2 năm trở lại đây, cơ cấu vốn cho nền kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực, tuy nhiên vốn đáp ứng cho cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ nông dân vẫn chủ yếu là qua kênh tín dụng. 

Cụ thể, tín dụng cho nền kinh tế từ 80% trong năm 2016 đã giảm xuống còn 65 – 66% trong năm 2017. Trong đó, vốn từ thị trường chứng khoán đã tăng trên 35%. Dù vậy, so với các nước trong khu vực, con số trên vẫn cao hơn rất nhiều, tỷ trọng trung bình ở các nước dưới 50% như: Indonesia (36,5%), Philippines (39,1%)…

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho biết hiện nay, độ sâu tài chính của hệ thống tài chính Việt Nam chỉ đạt 181% GDP, thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực (Philippines: 194%, Thái Lan: 339%, Trung Quốc: 337%, Malaysia: 372%, Singapore: 644%). 

Hơn nữa, cơ cấu tài sản giữa các lĩnh vực trong hệ thống tài chính chưa hợp lý. Hệ thống tổ chức tín dụng chiếm tới 96,2% tổng tài sản toàn hệ thống tài chính; trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chiếm 2,8%, các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ chỉ chiếm 1%.

Phân tích về hạn chế của nguồn vốn nghiêng quá nhiều về ngành ngân hàng, Ts. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính – ngân hàng, cho rằng dù vẫn là kênh đầu tư quan trọng của nền kinh tế, nhưng không nên dựa quá nhiều vào tín dụng. Nếu áp lực vẫn cứ tiếp tục đổ lên vai ngân hàng phải gánh vác cả vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế thì “căn bệnh” thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn sẽ thường trực. Áp lực này còn làm méo mó mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, trong khi sự cân bằng giữa hai chính sách này là yếu tố quyết định đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Tín dụng cho nền kinh tế từ 80% trong năm 2016 đã giảm xuống còn 65 – 66% trong năm 2017. Trong đó, vốn từ thị trường chứng khoán đã tăng trên 35%. Dù vậy, so với các nước trong khu vực, con số trên vẫn cao hơn rất nhiều, tỷ trọng trung bình ở các nước dưới 50% như: Indonesia (36,5%), Philippines (39,1%)…
 

Tín dụng nên tăng cao hay thấp 

Để giảm tải áp lực cung ứng vốn cho ngành ngân hàng, ổn định sự phát triển của nền kinh tế, các chuyên gia cho rằng vốn vay trung và dài hạn của doanh nghiệp phải được huy động từ thị trường chứng khoán, trái phiếu và bảo hiểm. Còn các ngân hàng thương mại sẽ cung ứng vốn ngắn và một số dự án đầu tư nhà nước. 

Lý thuyết là vậy, nhưng thực tế, các ngân hàng vẫn đang lấy vốn huy động ngắn hạn cho vay dài hạn. Tính đến hết năm 2017, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn chiếm 53 – 55%, trong khi vốn huy động trung, dài hạn chỉ chiếm 13 – 15%. Đây là rủi ro rất lớn cho hoạt động ngân hàng khi mất cân đối về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn.

Theo lộ trình, từ năm 2017, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn tối đa là 50% và năm 2018 sẽ là 45%. 

Trong khi lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm vẫn chưa đảm bảo về nguồn cung vốn dài hạn cho nền kinh tế, để cân bằng lại thị trường vốn của Việt Nam, giảm áp lực đối với khu vực ngân hàng phải có sự thay đổi và tìm phương hướng hợp lý về nguồn vốn cho nền kinh tế.

Phân tích điều này, một số ý kiến cho rằng nếu quá phụ thuộc vào khu vực ngân hàng để huy động vốn cho nền kinh tế thì câu hỏi liên quan là tăng trưởng tín dụng nên cao hay nên thấp? 

Theo ông Lực, năm 2017, tín dụng tăng 19% nhưng năm nay nên đưa ra con số thận trọng hơn là 17%, vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất, tín dụng không nhiều. Tín dụng tăng trưởng khá nhanh và mạnh trong vài năm trở lại đây. Cụ thể, năm 2013 tăng 8,9%, năm 2014 là 14%, năm 2015 là 15,7%, năm 2016 và 2017 là 19%. 

Thứ hai, theo nghiên cứu với số liệu của 10 nước, nếu đẩy tín dụng tăng thêm 10% thì tăng trưởng kinh tế chỉ tăng 0,5%. Như vậy không phải thúc đẩy tăng trưởng tín dụng sẽ nhất thiết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

“Tăng trưởng tín dụng phải liên quan đến cân đối nguồn vốn, tôi nhận thấy huy động vốn tín dụng chiếm 17,5%, tất nhiên thanh khoản ngân hàng tốt, với hơn 18% là mức chấp nhận được”, ông Lực nói.

Về con số tăng trưởng tín dụng 18%, ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng, quyền Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, cho rằng vẫn là quá cao. 

Theo ông Sebastian, thời điểm này không nhất thiết phải kích cầu quá nhiều khi nền kinh tế trong nước vẫn tương đối tốt. Ví dụ: Ngành dịch vụ – hiện chiếm hơn 40% GDP, đang tiếp tục tăng trưởng mạnh; sản xuất công nghiệp được cải thiện; ngành nông nghiệp từng bước được phục hồi. 

“Vì vậy, tôi nghĩ chưa có lý do để kích cầu nhiều. Tăng trưởng tín dụng cần cẩn trọng hơn và WB đồng tình với con số phù hợp theo khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế là ở mức 15%”, ông Sebastian nhận định.

Huyền Anh
 

Ý kiến bạn đọc ()